R. R. Reno, chủ but First Things, trong bản tin ngày 15 Tháng 5 Năm 2026, cho hay: Vào tháng Tư, Đức Thánh Cha và Tổng thống Hoa Kỳ đã lời qua tiếng lại. Nguyên nhân trực tiếp là do Đức Giáo Hoàng Leo chỉ trích các cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran. Căng thẳng leo thang khi Trump đưa ra những lời đe dọa hủy diệt, tuyên bố rằng Mỹ sẽ sử dụng sức mạnh quân sự khổng lồ của mình để xóa sổ nền văn minh Ba Tư: “Cả một nền văn minh sẽ chết - đêm nay.” Điều này và những tuyên bố hoang đường khác tiếp nối sau những lời lẽ khoe khoang kiểu Rambo thường xuyên của Pete Hegseth.

Đức Giáo Hoàng Leo cho rằng lời đe dọa của Trump là “không thể chấp nhận được.” (Đức Thánh Cha chắc chắn đã đúng. Tôi đã viết điều này vào thời điểm đó trong “Đạo đức của hùng biện trong thời chiến.”) Ngài tiếp tục nói, “Tôi muốn mời mọi người cầu nguyện, nhưng cũng tìm cách giao tiếp - có thể với các nghị sĩ, với chính quyền, nói rằng chúng ta không muốn chiến tranh; chúng ta muốn hòa bình.” Đức Leo cũng đăng tải những dòng gay gắt trên mạng xã hội: “Đây là Thiên Chúa của chúng ta: Giê-su, Vua Hòa Bình, Đấng bác bỏ chiến tranh, Đấng mà không ai có thể dùng để biện minh cho chiến tranh. Người không nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến, nhưng bác bỏ chúng, phán rằng: ‘Dù các ngươi cầu nguyện nhiều, ta cũng không nghe: tay các ngươi đầy máu’ (I-sai-a 1:25).”
Nhà Trắng dường như đã coi những tuyên bố này của Đức Leo như một lời tuyên chiến chính trị. Trump lập tức chuyển sang chế độ vận động tranh cử, đăng tải những tuyên bố miệt thị về Đức Leo trên Truth Social (“Yếu Kém trong vấn đề tội phạm, và tệ hại cho chính sách đối ngoại”). Trump cũng đăng một hình ảnh kỳ lạ do AI tạo ra về chính mình như một nhân vật giống Chúa Giê-su đang chữa lành người bệnh. Một làn sóng phản đối dữ dội đã nổ ra. Đức Leo tuyên bố rằng ông “không sợ chính quyền Trump”.
Chúng ta nên hiểu cảnh tượng này như thế nào?
Tôi cho rằng một số tuyên bố của Trump là rẻ tiền và hạ thấp phẩm giá, một số khác thì đáng khinh bỉ. Nhưng sự cường điệu và vu khống luôn là một phần trong kho vũ khí hùng biện của ông, điều đã thúc đẩy những thành công chính trị của ông. Vậy nên, hãy ghi nhận tôi là người thất vọng trước những lời lẽ khó nghe của ông ta về Đức Thánh Cha, nhưng không ngạc nhiên. (Lưu ý rằng tôi nói “thất vọng”, chứ không phải “phẫn nộ”—cái sau là một yếu tố của bầu không khí kiểu WWE [tiêu khiển đô vật] mà Trump thích tạo ra.)
Tuy nhiên, Trump và các cố vấn của ông ta đúng khi coi Giáo Hội Công Giáo là một đối thủ chính trị. Như tôi đã viết nhiều lần, với tư cách là một định chế quốc tế, Giáo hội đã liên minh chặt chẽ với nhiều lực lượng thúc đẩy toàn cầu hóa và tìm kiếm sự thắng lợi của sự đồng thuận về xã hội mở thời hậu chiến, trong khi Trump và chủ nghĩa dân túy mà ông ta đại diện lại đi theo hướng ngược lại.
Tôi muốn người lãnh đạo tinh thần của mình là một người ủng hộ mạnh mẽ và kiên định cho hòa bình. Hơn nữa, có những lý do chính đáng để cho rằng quyết định gây chiến của Trump là không khôn ngoan và có lẽ là bất công. Tôi đã nêu ra những lo ngại của mình trong một bài báo trước đó (“Lý thuyết chiến tranh chính nghĩa và cơn thịnh nộ sử thi”). Nhưng thay vì những tuyên bố chung chung về Chúa Giê-su là hoàng tử hòa bình và những lời khẳng định thẳng thừng về việc Người đáp lời cầu nguyện của ai, thời đại chúng ta cần suy gẫm về loại hòa bình mà chúng ta có thể hy vọng – và hướng tới – trong hoàn cảnh hiện tại, hoàn cảnh ngày càng khiến lập trường mặc định của Vatican trở nên khó tin.
Sau Thế chiến II, những người ủng hộ các định chế quốc tế nắm giữ vị thế đạo đức cao. Giáo Hội Công Giáo trở thành người ủng hộ mạnh mẽ tầm nhìn siêu quốc gia về quản trị toàn cầu, hứa hẹn sẽ chấm dứt chiến tranh như một công cụ của chính sách đối ngoại. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tán thành việc phát triển một “chính quyền công” toàn cầu. Đức Giáo Hoàng Benedict XVI nhắc lại khát vọng này, kêu gọi một “chính quyền chính trị thế giới thực sự”. Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng làm như vậy.
Vấn đề với tầm nhìn hòa bình này là nỗ lực bền bỉ nhất để hiện thực hóa nó đã thất bại. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các nhà lãnh đạo Mỹ đã cố gắng xây dựng một “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” nhằm cung cấp một khuôn khổ siêu quốc gia đáng tin cậy cho hợp tác toàn cầu. Nhưng điều đó đã không ngăn cản Vladimir Putin chiếm Crimea và xâm lược Ukraine, cũng như không kiềm chế được mạng lưới dân quân ủy nhiệm của Iran, vốn đã gây bất ổn Trung Đông và châm ngòi cho cuộc xung đột hiện nay.
Hơn nữa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhận ra rằng trật tự quốc tế dựa trên luật lệ có một mặt tối: Nó thúc đẩy mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản và tạo ra sự phân hóa ngày càng lớn giữa người thắng và người thua. Thông điệp Fratelli Tutti năm 2020 của ngài đã chỉ trích nền kinh tế toàn cầu hóa. Tuy nhiên, thông điệp này kêu gọi một chủ nghĩa quốc tế mới, lần này được tổ chức để thúc đẩy tình liên đới và quyền của những người bị gạt ra ngoài lề xã hội.
Một lần nữa, những lý tưởng cao cả có vẻ cao quý, nhưng khi chúng không thực tế, chúng dễ dàng trở nên vô trách nhiệm. Dường như không nhận ra sự trớ trêu, trong thời kỳ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Vatican đã mời các tỷ phú đến Rome để thảo luận về những cải cách được kỳ vọng. Trong khi đó, sự phản kháng thực tế đối với sự tước đoạt quyền kinh tế do toàn cầu hóa gây ra, cũng như sự phản đối đối với sự phân bổ không công bằng chi phí duy trì hệ thống quốc tế, đã nổi lên trong các phong trào dân túy, được minh họa bởi nhưng không giới hạn ở các chiến thắng bầu cử của Trump.
Các nhà lãnh đạo của Giáo Hội Công Giáo lẽ ra phải lường trước được sự thất bại của chủ nghĩa quốc tế thời hậu Chiến tranh Lạnh và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy dựa trên quốc gia. Trong thông điệp nổi tiếng Rerum Novarum (1891), Đức Giáo Hoàng Leo XIII nhận thấy rằng các lực lượng kinh tế mới đang định hình lại phương Tây trong cuộc cách mạng kỹ nghệ chỉ có thể bị kiềm chế bởi sức mạnh đối trọng của những động lực lớn lao của tình liên đới: gia đình, quốc gia và Giáo hội.
Người dân các quốc gia phương Tây đang dò dẫm tìm đường đến một điều gì đó tương tự như tầm nhìn của Đức Leo XIII. Chủ nghĩa dân túy tìm cách đổi mới tình liên đới quốc gia, điều này mang lại một lực lượng đối trọng với những mặt trái của chủ nghĩa tư bản toàn cầu mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chỉ trích. Chủ nghĩa dân túy ngày nay là một vấn đề phức tạp, đầy rẫy những mặt trái của riêng nó. Nó cũng đang làm sống lại những căng thẳng địa chính trị, và do đó gây ra những nguy hiểm nghiêm trọng, như cuộc xung đột Iran đã minh họa.
Chuyến đi của Đức Giáo Hoàng Leo đến các nước châu Phi rất đáng lưu ý để quan sát. Cho dù đó là chỉ trích tham nhũng, kêu gọi công bằng kinh tế, hay lời khuyên nhủ giới trẻ nên ở lại quê hương, thông điệp của ngài là khuyến khích tình liên đới và xây dựng năng lực nhà nước để các quốc gia trên lục địa có thể hưởng thịnh vượng và ngăn chặn xung đột nội bộ. Tuy nhiên, khi sự chú ý đổ dồn vào các quốc gia phương Tây, Vatican dường như không thể nhận ra những vấn đề và nhu cầu tương tự.
Đức Giáo Hoàng Leo đã cho thấy rõ ràng rằng ngài muốn Giáo Hội Công Giáo tham gia vào các cuộc tranh luận chính trị của thời đại chúng ta. Ngài làm như vậy là đúng. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, thế giới đã được định hình lại một cách sâu sắc, điều này hiện đang tạo ra những thách thức, và đến lượt nó, những thách thức này có nguy cơ dẫn đến những thay đổi mới và mang tính đột phá. Di cư hàng loạt, xung đột giữa các cường quốc, chủ nghĩa dân tộc, công bằng kinh tế: Những vấn đề này và những vấn đề khác đòi hỏi sự phân tích đạo đức ở những bình diện cơ bản nhất.
Vì vậy, đúng vậy, Đức Leo nên nói về cuộc xung đột Iran. Nhưng ngài cũng nên đề cập đến những nguy hiểm của việc phổ biến vũ khí hạt nhân. Phương tiện chính đáng nào có thể được sử dụng để ngăn chặn nó? Và ngài cũng nên suy gẫm về những câu hỏi khó khăn về tính chính đáng của việc gây chiến để bảo vệ một đế quốc. Thuật ngữ “đế quốc” đang mang tiếng xấu. Nhưng thuật ngữ này có thể được sử dụng một cách lỏng lẻo để mô tả phạm vi ảnh hưởng của một quốc gia hùng mạnh, trong đó quyền bá chủ của quốc gia đó duy trì các điều kiện cho hòa bình. Liệu có hợp lý khi cho rằng lý thuyết chiến tranh chính nghĩa, với mục đích thúc đẩy hòa bình, lại khiến việc một cường quốc bá chủ sử dụng vũ lực để bảo vệ các điều kiện hòa bình, vốn xuất phát chính từ sự thống trị của họ, trở nên phi đạo đức? Đây là một câu hỏi hóc búa, không chỉ liên quan đến xung đột Iran mà còn đến các cuộc chiến tranh của Mỹ kể từ năm 1945.
Tôi không phủ nhận các định chế quốc tế. Chúng có thể đóng vai trò tích cực trong tương lai. Nhưng Giáo Hội Công Giáo cần nhận ra thời điểm hiện tại là gì. Chúng ta cần sự khôn ngoan về mặt đạo đức của Giáo hội để phân biệt loại hòa bình nào có thể đạt được trong một thế giới cạnh tranh giữa các cường quốc, và làm thế nào chúng ta có thể hy vọng đạt được và bảo vệ nó.