
Huyền thoại về một nhóm vận động hành lang thống nhất của các giáo hội ngày càng mâu thuẫn với sự đa dạng về quan điểm giữa các tín hữu Ki-tô giáo ở Úc.
Tom Hyland, viết trên Global Catholic của hãng tin UcanNews, ngày 1 tháng 7 năm 2026, đã nhận định như trên. Ông viết tiếp: Úc đã có bảy thủ tướng trong hai thập niên qua. Tất cả trừ một người đều tự nhận mình là tín hữu Ki-tô giáo.
Anthony Albanese, thủ tướng đương nhiệm, cho biết ông được nuôi dưỡng với ba “tín ngưỡng lớn: Giáo Hội Công Giáo, Đảng Lao động và Câu lạc bộ bóng đá South Sydney.”
Địch thủ của ông, Peter Dutton, tự nhận mình là người Công Giáo nhưng hiếm khi nói về đức tin tôn giáo của mình, không giống như Scott Morrison, một người theo đạo Ngũ Tuần cởi mở và nhiệt tình. Malcolm Turnbull là một người trở lại Công Giáo. Tony Abbott là một người Công Giáo mộ đạo và từng là chủng sinh. Kevin Rudd, người được nuôi dạy theo đạo Công Giáo trước khi chuyển sang Anh giáo, đã viết và nói chuyện cởi mở về đức tin Kitô giáo của mình.
Chỉ có một thủ tướng kể từ năm 2007, Julia Gillard, là người vô thần.
Vì lòng trung thành Kitô giáo của các nhà lãnh đạo chính trị Úc, đôi khi người ta cho rằng các giáo hội và các tổ chức liên quan có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến các chính sách của chính phủ và ảnh hưởng này hiệu quả nhất trong các đảng Tự do và Quốc gia bảo thủ của Úc.
Các nghiên cứu do NCLS Research thực hiện, sử dụng dữ liệu từ Khảo sát Đời sống Giáo hội Quốc gia, cho thấy những người tham dự các giáo hội Kitô giáo có xu hướng bỏ phiếu bảo thủ (khoảng 42% đến 47%).
Mặc dù các nghiên cứu cho thấy mô hình bỏ phiếu có sự khác biệt nhỏ tùy thuộc vào giáo phái và các yếu tố nhân khẩu học — ví dụ, những người đi nhà thờ lớn tuổi có nhiều khả năng bỏ phiếu bảo thủ hơn những người trẻ tuổi — nhưng những người đi nhà thờ chủ yếu có xu hướng bỏ phiếu bảo thủ, một xu hướng hầu như không thay đổi theo thời gian.
Tuy nhiên, tác động của niềm tin tôn giáo của các nhà lãnh đạo chính trị và mô hình bỏ phiếu của những người Ki-tô hữu đến chính sách của chính phủ vẫn chưa rõ ràng, bất chấp những bình luận trên truyền thông về sức mạnh của “nhóm vận động hành lang nhà thờ”. Trên thực tế, một số nhà lãnh đạo tôn giáo lo ngại rằng tự do tôn giáo đang bị đe dọa, khi nhiều người Ki-tô hữu ở Úc ngần ngại công khai khẳng định đức tin của mình.
Cũng không thể vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa tôn giáo mà một chính trị gia tuyên bố và các chính sách mà họ theo đuổi khi tại chức. Như học giả John Warhurst đã chỉ ra, tác động của niềm tin tôn giáo đến chính sách, “thường được những người bảo vệ sự thuần khiết của nhà nước thế tục coi là một mối đe dọa nguy hiểm, khó xác định hơn”.
Cuộc tranh luận ở Úc về hôn nhân đồng tính minh họa một phần khó khăn này.
Khi còn đương chức, Julia Gillard, thủ tướng đảng Lao động theo chủ nghĩa vô thần, đã phản đối hôn nhân đồng tính. Malcolm Turnbull, thủ tướng đảng Tự do theo đạo Công Giáo, đã cho phép một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc mà cuối cùng ủng hộ bình đẳng hôn nhân, và sau đó tuyên bố ông tự hào đã thông qua luật này.
Một vấn đề phức tạp khác làm sai lệch những nhận định đơn giản về quyền lực của các giáo hội là trên nhiều vấn đề chính sách, họ bị chia rẽ — đôi khi giữa các giáo hội với nhau, và đôi khi ngay trong nội bộ mỗi giáo hội. Hơn nữa, tín hữu không nhất thiết phải tuân theo lời khuyên hay chỉ đạo của các lãnh đạo giáo hội, điều này chắc chắn làm suy yếu ảnh hưởng chính trị của các giáo hội.
Về vấn đề bình đẳng hôn nhân, Giáo hội Anh giáo bị chia rẽ sâu sắc, trong khi Giáo hội Uniting ủng hộ. Các giám mục Công Giáo vận động chống lại hôn nhân đồng tính, nhưng các cuộc thăm dò cho thấy đa số người Công Giáo và các tín hữu Kitô giáo khác ủng hộ.
Đáng chú ý trong số những người Công Giáo bất đồng quan điểm với các giám mục là Cha Frank Brennan, người lập luận rằng trong khi ông duy trì hôn nhân là giữa một người đàn ông và một người đàn bà trong bối cảnh hôn nhân bí tích của Công Giáo, thì vấn đề hôn nhân dân sự là riêng biệt.
“Những người trong chúng tôi là người Công Giáo có nhiều mối liên hệ với các giáo phái khác nhau,” Cha Brennan nói.
“Chúng tôi là thành viên của Giáo Hội Công Giáo, khẳng định tính bí tích của hôn nhân như được Giáo hội định nghĩa, và chúng tôi là công dân của một xã hội dân chủ đa nguyên dưới sự cai trị của pháp luật, khẳng định tính hợp pháp của các mối quan hệ cam kết được cử hành theo luật với hy vọng góp phần vào hạnh phúc của cặp vợ chồng và con cái của họ.”
Có một sự khác biệt tương tự về vấn đề phá thai, mặc dù vấp phải sự phản đối từ các lãnh đạo Kitô giáo cấp cao, nhưng vẫn hợp pháp ở tất cả các tiểu bang và vùng lãnh thổ của Úc. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy đa số người Công Giáo - và các Kitô hữu khác - ủng hộ quyền tiếp cận phá thai.
Sự khác biệt này đã dẫn đến việc các học giả và giới truyền thông vạch ra ranh giới giữa Kitô hữu và Kitô hữu cánh tả.
Ở cánh tả, có những nhóm như Common Grace, tự mô tả mình là “một phong trào của các cá nhân, nhà thờ và cộng đồng cùng nhau theo đuổi Chúa Giêsu và công lý vì sự thịnh vượng của tất cả mọi người và toàn bộ tạo vật.” Các lĩnh vực trọng tâm của nhóm là công lý cho người bản địa, khí hậu và môi trường, cứu trợ…và bạo lực gia đình.
Tổ chức đại diện lớn nhất và năng động nhất của phe Ki-tô giáo bảo thủ là Tổ chức Vận động Ki-tô giáo Úc (ACL), tổ chức vận động chính sách Ki-tô giáo nổi tiếng nhất.
Tổ chức Vận động Ki-tô giáo Úc cho biết họ hoạt động để “thúc đẩy quan điểm Ki-tô giáo về các vấn đề xã hội và chính trị”. Bằng cách huy động 250,000 thành viên, họ tuyên bố tạo ra tác động đáng kể đến bối cảnh chính trị Úc, bằng cách ảnh hưởng đến “các quyết định chính sách và luật pháp ở mọi bình diện”.
Các vấn đề trọng tâm của họ là tự do tôn giáo, “hệ tư tưởng giới tính”, phá thai và an tử, “sự tình dục hóa xã hội”, và người Úc bản địa.
Nhưng khả năng của Tổ chức Vận động Ki-tô giáo Úc — và các nhóm tôn giáo rộng hơn — trong việc định hình quá trình ra quyết định về những vấn đề đó, ở mức tốt nhất, là bị phóng đại.
Ví dụ, vấn đề tự do tôn giáo đã làm khó các chính phủ ở cả hai phe chính trị trong những năm gần đây và vẫn chưa được giải quyết. Cả hai bên đều hứa sẽ đưa ra luật để cấm phân biệt đối xử dựa trên niềm tin tôn giáo, đồng thời cấm phân biệt đối xử với học sinh và nhân viên LGBTIQ+ tại các trường học tôn giáo.
Việc không thể dung hòa hai mục tiêu này và đạt được sự đồng thuận lưỡng đảng cuối cùng đã khiến Thủ tướng Albanese từ bỏ dự luật, để tránh điều mà ông gọi là “một cuộc tranh luận gây chia rẽ về tôn giáo”.
Nếu như ảnh hưởng được cho là của Tổ chức Vận động Ki-tô giáo Úc bị phóng đại, thì những nghi ngờ của giới thế tục về quyền lực của các nhà thờ cũng vậy.
Trên thực tế, nhiều tín hữu lo sợ rằng tự do tôn giáo đang bị đe dọa ở Úc, theo một báo cáo được công bố năm nay. Báo cáo “Chỉ số Tự do Kitô giáo Úc” đầu tiên dựa trên phản hồi từ hơn 10,000 tín hữu Kitô giáo tích cực. Hơn 70% cho biết họ cảm thấy bị áp lực phải giữ kín niềm tin của mình; 42% đã trải qua sự thù địch, đe dọa hoặc quấy rối vì bày tỏ quan điểm Kitô giáo; và 25% tin rằng họ đã bị từ chối cơ hội trong việc làm, hoạt động tình nguyện hoặc lãnh đạo.
Báo cáo này được các lãnh đạo giáo hội từ nhiều giáo phái khác nhau ủng hộ, bao gồm cả Giám Mục Phụ Tá Công Giáo Anthony Percy, người cho rằng nó cho thấy rõ ràng “quyền tự do tôn giáo đang bị cướp đoạt ở Úc”.
Báo cáo cũng cho thấy rõ ràng các tác giả không chỉ xem “nguyên nhân” của sự phân biệt đối xử là các thế lực chính trị và xã hội thế tục bên ngoài. Báo cáo dẫn chứng “sự lệch lạc về giáo lý” của nhiều tín hữu Ki-tô giáo Úc, những người “đã tìm cách dung hòa các giá trị tiến bộ thế tục với cái giá phải trả là sự sai lệch so với giáo lý Ki-tô giáo chính thống dựa trên Kinh Thánh về hôn nhân và tình dục”.
Sự “lệch lạc về giáo lý” được các tác giả bảo thủ về tôn giáo trong báo cáo phát hiện cũng có thể được xem như phản ánh sự đa dạng về quan điểm giữa các tín hữu Ki-tô giáo Úc. Sự đa dạng đó ngày càng làm suy yếu huyền thoại về một nhóm vận động hành lang nhà thờ thống nhất.