Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 07/04: Ngài gọi Tên Con - Lm. Giuse Phêrô Vũ Hải Đăng, SDD
Giáo Hội Năm Châu
03:24 06/04/2026
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
Khi ấy, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, 12 thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. 13 Thiên thần hỏi bà : “Này bà, sao bà khóc?” Bà thưa : “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” 14 Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. 15 Đức Giê-su nói với bà : “Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói : “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” 16 Đức Giê-su gọi bà : “Ma-ri-a !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri : “Ráp-bu-ni !” (nghĩa là ‘Lạy Thầy’). 17 Đức Giê-su bảo : “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ : ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em’.” 18 Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà.
Đó là Lời Chúa
MỘT LẦN QUAY KHÁC
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
16:17 06/04/2026
MỘT LẦN QUAY KHÁC
“Bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu”.
“Đức Giêsu được thấy; nhưng chưa được nhận biết!” - Origen.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay cho biết, Maria thấy; nhưng không nhận ra. Không phải vì cô thiếu ánh sáng; nhưng vì việc nhận ra không đến từ cái nhìn, mà từ một tương quan. Cùng một cử chỉ quay lại; nhưng không cùng một nhận thức - vì thế, cần ‘một lần quay khác!’.
Thật thú vị, trong bản văn Gioan, convertere - “quay lại” - được nhắc đến hai lần nhưng không cùng một chuyển động: “conversa est” và “conversa” - Maria quay lại và lại quay. Lần thứ nhất, cô quay nhưng không nhận ra; lần thứ hai, cô quay và nhận ra. Không phải vì thay đổi vị trí; nhưng vì thay đổi tương quan. Với Gioan, nhận ra không đến từ cái nhìn; nhưng từ một hiện diện được mở ra. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta: có những lần chúng ta đã quay; nhưng vẫn ở lại trong cách hiểu cũ, trong những mất mát… chỉ vì thiếu một cách quay khác - ‘một lần quay khác’ về một Đấng rất gần. “Thiên Chúa gần tôi hơn chính tôi!” - Augustinô.
Maria không nhận ra, không phải vì thiếu dữ kiện; nhưng vì đặt sai câu hỏi. Cô tưởng Chúa Giêsu là người làm vườn. Một chi tiết nhỏ; nhưng không vô nghĩa: khu vườn là nơi của sự sống, không phải nghĩa địa của cái chết. Nhưng trước mắt cô vẫn chỉ là một ngôi mộ; và cô hỏi: “Ông để Người ở đâu?” - một câu hỏi về một xác chết có thể bị di chuyển. Maria không hoàn toàn sai; nhưng vẫn chưa đủ để nhận ra Thầy. Như Đức Phanxicô nhắc, khi đánh mất khu vườn, con người đánh mất chính mình! Khi câu hỏi sai, mọi câu trả lời đều trượt. Vì thế, không phải chỉ cần quay; còn phải bỏ đi câu hỏi sai.
May thay - “Maria!”. Không phải một dữ kiện mới; nhưng là một lời gọi. Không thêm điều gì vào điều cô đã thấy; nhưng đặt cô lại trong một hiện diện. Với Gioan, nhận biết không đến từ việc biết thêm; nhưng từ việc được gọi đúng chỗ của mình; không phải đổi cảnh; nhưng đổi vị trí của mình trước Chúa. Ngài gọi tên từng con chiên. Vì thế, không phải sửa lại câu hỏi; nhưng là được gọi trở lại. Nhận ra không bắt đầu từ mắt; nhưng từ một tiếng gọi chạm tới chính mình - từ đó, ‘một lần quay khác’ thay đổi mọi sự. “Tình yêu tự nó là nhận biết!” - Grêgôriô Cả.
Anh Chị em,
Nơi Đức Kitô, quay lại là quay về với Cha. Không theo Satan nơi hoang địa; không chiều nó để gieo mình từ nóc đền thờ; cũng không nán lại để được tôn làm vua. Ngài không quay theo điều dễ; nhưng theo ý Đấng sai mình. Và chính trong lần quay cuối cùng lên núi Sọ, ơn cứu độ nở hoa. Từ đó, lần quay của Ngài trở thành con đường. Với chúng ta, quay về; quay nhiều; nhưng vẫn giữ lại những tính toán cũ, những vết thương chưa chịu buông. Vì thế, vẫn ở lại chốn xưa. Chỉ khi dám quay như Chúa Giêsu - không theo điều thuận, nhưng theo Cha - thì lần quay của chúng ta mới thành lối. “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi!” - Ga 10, 27.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin cho con nhận ra tiếng Chúa giữa bao tiếng khác; thuộc về Chúa giữa những điều khác; và khi lạc hướng, cho con biết quay về!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
“Bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu”.
“Đức Giêsu được thấy; nhưng chưa được nhận biết!” - Origen.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay cho biết, Maria thấy; nhưng không nhận ra. Không phải vì cô thiếu ánh sáng; nhưng vì việc nhận ra không đến từ cái nhìn, mà từ một tương quan. Cùng một cử chỉ quay lại; nhưng không cùng một nhận thức - vì thế, cần ‘một lần quay khác!’.
Thật thú vị, trong bản văn Gioan, convertere - “quay lại” - được nhắc đến hai lần nhưng không cùng một chuyển động: “conversa est” và “conversa” - Maria quay lại và lại quay. Lần thứ nhất, cô quay nhưng không nhận ra; lần thứ hai, cô quay và nhận ra. Không phải vì thay đổi vị trí; nhưng vì thay đổi tương quan. Với Gioan, nhận ra không đến từ cái nhìn; nhưng từ một hiện diện được mở ra. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta: có những lần chúng ta đã quay; nhưng vẫn ở lại trong cách hiểu cũ, trong những mất mát… chỉ vì thiếu một cách quay khác - ‘một lần quay khác’ về một Đấng rất gần. “Thiên Chúa gần tôi hơn chính tôi!” - Augustinô.
Maria không nhận ra, không phải vì thiếu dữ kiện; nhưng vì đặt sai câu hỏi. Cô tưởng Chúa Giêsu là người làm vườn. Một chi tiết nhỏ; nhưng không vô nghĩa: khu vườn là nơi của sự sống, không phải nghĩa địa của cái chết. Nhưng trước mắt cô vẫn chỉ là một ngôi mộ; và cô hỏi: “Ông để Người ở đâu?” - một câu hỏi về một xác chết có thể bị di chuyển. Maria không hoàn toàn sai; nhưng vẫn chưa đủ để nhận ra Thầy. Như Đức Phanxicô nhắc, khi đánh mất khu vườn, con người đánh mất chính mình! Khi câu hỏi sai, mọi câu trả lời đều trượt. Vì thế, không phải chỉ cần quay; còn phải bỏ đi câu hỏi sai.
May thay - “Maria!”. Không phải một dữ kiện mới; nhưng là một lời gọi. Không thêm điều gì vào điều cô đã thấy; nhưng đặt cô lại trong một hiện diện. Với Gioan, nhận biết không đến từ việc biết thêm; nhưng từ việc được gọi đúng chỗ của mình; không phải đổi cảnh; nhưng đổi vị trí của mình trước Chúa. Ngài gọi tên từng con chiên. Vì thế, không phải sửa lại câu hỏi; nhưng là được gọi trở lại. Nhận ra không bắt đầu từ mắt; nhưng từ một tiếng gọi chạm tới chính mình - từ đó, ‘một lần quay khác’ thay đổi mọi sự. “Tình yêu tự nó là nhận biết!” - Grêgôriô Cả.
Anh Chị em,
Nơi Đức Kitô, quay lại là quay về với Cha. Không theo Satan nơi hoang địa; không chiều nó để gieo mình từ nóc đền thờ; cũng không nán lại để được tôn làm vua. Ngài không quay theo điều dễ; nhưng theo ý Đấng sai mình. Và chính trong lần quay cuối cùng lên núi Sọ, ơn cứu độ nở hoa. Từ đó, lần quay của Ngài trở thành con đường. Với chúng ta, quay về; quay nhiều; nhưng vẫn giữ lại những tính toán cũ, những vết thương chưa chịu buông. Vì thế, vẫn ở lại chốn xưa. Chỉ khi dám quay như Chúa Giêsu - không theo điều thuận, nhưng theo Cha - thì lần quay của chúng ta mới thành lối. “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi!” - Ga 10, 27.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin cho con nhận ra tiếng Chúa giữa bao tiếng khác; thuộc về Chúa giữa những điều khác; và khi lạc hướng, cho con biết quay về!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
20:19 06/04/2026
15. Hiền lành, từ ái, khiêm tốn có năng lực kỳ lạ chiếm lĩnh tâm hồn con người, có thể làm cho họ tiếp nhận cái đáng ghét nhất của tính con người.
(Thánh Francis de Sales)Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")
----------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
20:22 06/04/2026
97. MÊ ĐỌC SÁCH CỔ
Lưu Dực Trung là người ở Thương Châu, thường ngày rất thích đọc sách cổ, thích đến nỗi như người mê tín..
Một hôm, ngẫu nhiên được một quyển binh pháp cổ, bèn phục trên bàn đọc luôn cả một năm, tự cho mình có thể chỉ huy mười vạn binh sĩ tác chiến. Năm ấy gặp địch quân xâm chiếm, ông tha bèn thao luyện binh sĩ và đem quân ra trận, kết quả bị đại bại và ông ta suýt bị bắt làm tù binh.
Về sau, ông ta lại nhặt được một quyển sách dạy về thủy lợi của người xưa, lại nằm phục trên bàn cẩn thận đọc thêm một năm nữa, và tự cho mình có thể hô ngàn vạn thổ đất biến thành ruộng vườn.
Quan huyện nghe được tin ông ta khoác lác như thế, bèn bổ nhiệm ông ta đến một thôn làng để lãnh đạo dân chúng làm thủy lợi. Gặp lúc thủy triều dâng cao tàn bạo, nước chảy ngập đê, ông ta cho đào các ngòi rãnh để dẫn nước vào trong, dân trong làng bị nước ngập loi ngoi như những con ba ba trong nước.
(Duyệt Vi Thảo Đường bút ký)
Suy tư 97:
Có những quyển sách mà khi đọc xong thì hiểu được ý nghĩa ngay; có những quyển sách đọc xong phải ngẫm nghĩ cả hai ba ngày mới hiểu được nghĩa của nó; và có những quyển sách phải đọc lui đọc tới cả trăm lần mới hiểu được.
Có người mới đọc được vài quyển sách thì đã vỗ bụng khoe khoang là cả bụng chữ nghĩa, nhưng viết không nổi một lá đơn xin việc; có người khoe khoang mình học Tây học Tàu, thông làu văn chương kim cổ, nhưng cuộc sống thì như người chưa hề biết đến chữ nghĩa; lại có người có thực chất học cao biết rộng nhưng thiếu cái tâm khiêm tốn, nên trở thành nỗi lo nỗi buồn của người khác.
Đọc hết tất cả các sách của thế gian mà không đọc Kinh Thánh thì chẳng khác chi người đọc sách binh thư cổ, không hiểu gì cả về Thiên Chúa và tình thương của Ngài; hiểu biết các khoa học vũ trụ trên trời dưới đất và trong biển khơi, nhưng coi thường Lời Chúa trong sách Kinh Thánh, thì giống như đứa học trò nói mình đã giỏi hơn thầy...
Suy tư khi đọc Kinh Thánh để nhìn thấy Thiên Chúa trong các công trình khoa học của mình, đó là tâm tình của tất cả người Ki-tô hữu.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
--------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Lưu Dực Trung là người ở Thương Châu, thường ngày rất thích đọc sách cổ, thích đến nỗi như người mê tín..
Một hôm, ngẫu nhiên được một quyển binh pháp cổ, bèn phục trên bàn đọc luôn cả một năm, tự cho mình có thể chỉ huy mười vạn binh sĩ tác chiến. Năm ấy gặp địch quân xâm chiếm, ông tha bèn thao luyện binh sĩ và đem quân ra trận, kết quả bị đại bại và ông ta suýt bị bắt làm tù binh.
Về sau, ông ta lại nhặt được một quyển sách dạy về thủy lợi của người xưa, lại nằm phục trên bàn cẩn thận đọc thêm một năm nữa, và tự cho mình có thể hô ngàn vạn thổ đất biến thành ruộng vườn.
Quan huyện nghe được tin ông ta khoác lác như thế, bèn bổ nhiệm ông ta đến một thôn làng để lãnh đạo dân chúng làm thủy lợi. Gặp lúc thủy triều dâng cao tàn bạo, nước chảy ngập đê, ông ta cho đào các ngòi rãnh để dẫn nước vào trong, dân trong làng bị nước ngập loi ngoi như những con ba ba trong nước.
(Duyệt Vi Thảo Đường bút ký)
Suy tư 97:
Có những quyển sách mà khi đọc xong thì hiểu được ý nghĩa ngay; có những quyển sách đọc xong phải ngẫm nghĩ cả hai ba ngày mới hiểu được nghĩa của nó; và có những quyển sách phải đọc lui đọc tới cả trăm lần mới hiểu được.
Có người mới đọc được vài quyển sách thì đã vỗ bụng khoe khoang là cả bụng chữ nghĩa, nhưng viết không nổi một lá đơn xin việc; có người khoe khoang mình học Tây học Tàu, thông làu văn chương kim cổ, nhưng cuộc sống thì như người chưa hề biết đến chữ nghĩa; lại có người có thực chất học cao biết rộng nhưng thiếu cái tâm khiêm tốn, nên trở thành nỗi lo nỗi buồn của người khác.
Đọc hết tất cả các sách của thế gian mà không đọc Kinh Thánh thì chẳng khác chi người đọc sách binh thư cổ, không hiểu gì cả về Thiên Chúa và tình thương của Ngài; hiểu biết các khoa học vũ trụ trên trời dưới đất và trong biển khơi, nhưng coi thường Lời Chúa trong sách Kinh Thánh, thì giống như đứa học trò nói mình đã giỏi hơn thầy...
Suy tư khi đọc Kinh Thánh để nhìn thấy Thiên Chúa trong các công trình khoa học của mình, đó là tâm tình của tất cả người Ki-tô hữu.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
--------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Giáo Hoàng Leo tôn vinh Đức Phanxicô lúc đọc kinh Nữ vương Thiên đàng, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thật so với tin giả
Vũ Văn An
17:35 06/04/2026

Theo Bởi Elise Ann Allen, trong bản tin Crux ngày 6 tháng 4 năm 2026, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã chủ trì buổi đọc Kinh Nữ Vương Thiên Đàng với những người hành hương và du khách tập trung tại Quảng trường Thánh Phêrô vào Thứ Hai Phục Sinh – một ngày nghỉ lễ quốc gia được gọi là Pasquetta hay “Lễ Phục Sinh Nhỏ” ở Ý – và cầu nguyện cho vị tiền nhiệm của ngài là Đức Phanxicô, người đã qua đời vào Thứ Hai Phục Sinh năm ngoái sau một thời gian dài chống chọi với bệnh hô hấp.
“Với tình cảm đặc biệt, trong ánh sáng của Chúa Phục Sinh, hôm nay chúng ta tưởng nhớ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, người đã trở về với Chúa vào Thứ Hai Phục Sinh năm ngoái,” Đức Leo nói trong bài phát biểu lúc đọc Kinh Nữ vương Thiên đàng ngày 6 tháng 4 của ngài.
Nhắc lại điều mà ngài nói là “chứng nhân sâu sắc về đức tin và tình yêu” của Đức Phanxicô, Đức Leo đã yêu cầu các tín hữu cùng nhau cầu nguyện, “để chúng ta trở thành những người loan báo chân lý rạng rỡ hơn bao giờ hết.”
Thứ Hai Phục Sinh còn được gọi là lunedi dell’Angelo, hay “Thứ Hai Thiên Thần” ở Ý, và được công nhận là ngày nghỉ chính thức ở nhiều quốc gia theo Ki-tô giáo trên thế giới.
Trong mùa phụng vụ Phục Sinh, Đức Giáo Hoàng đọc kinh cầu nguyện truyền thống Nữ vương Thiên đàng thay vì kinh Truyền Tin vào các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ đặc biệt, bao gồm cả Pasquetta (Thứ Hai Phục Sinh).
Trong bài phát biểu hôm thứ Hai, Đức Giáo Hoàng Leo tập trung vào bài đọc Tin Mừng trong ngày, trong đó Maria Ma-đa-lê-na gặp Chúa Giêsu phục sinh khi đang chạy đi loan báo sự phục sinh của Người cho các môn đệ, cũng như những nỗ lực của các lãnh đạo Tòa Công nghị nhằm hối lộ những người canh giữ mộ Chúa Giêsu để họ nói rằng Người không sống lại, mà thi thể của Người đã bị đánh cắp.
Đức Giáo Hoàng Leo nói: Từ một sự kiện này, sự sống lại của Chúa Giêsu từ cõi chết, hai câu chuyện được loan truyền, “một là nguồn sống mới và vĩnh cửu, câu chuyện kia là về cái chết chắc chắn và dứt khoát”.
“Sự tương phản đó mời gọi chúng ta suy gẫm về giá trị của lời chứng Kitô giáo và sự chính trực trong truyền thông nhân bản” ngài nói thế và bày tỏ sự tiếc nuối khi việc rao giảng chân lý thường bị “che khuất bởi những gì ngày nay chúng ta gọi là ‘tin giả’ — những lời dối trá, ám chỉ và cáo buộc vô căn cứ.”
Tuy nhiên, ngài nói, giữa mạng lưới thông tin thường mâu thuẫn này, “chân lý không bị che giấu; trái lại, nó hiện ra để gặp gỡ chúng ta, sống động và rạng rỡ, soi sáng ngay cả bóng tối sâu thẳm nhất”.
Đức Giáo Hoàng nói: Cũng như Chúa Giê-su đã bảo các phụ nữ ở mộ đừng sợ hãi mà hãy đi kể cho người khác biết những gì họ đã thấy, Chúa Kitô cũng gửi cùng một thông điệp đến các Kitô hữu ngày nay: “Đừng sợ hãi; hãy đi và kể lại”.
Theo ngài, bằng cách làm như vậy, chính Chúa Giê-su “trở thành Tin Mừng để được làm chứng trong thế giới. Lễ Vượt Qua của Chúa là Lễ Vượt Qua của chúng ta – Lễ Vượt Qua của toàn thể nhân loại – vì người đã chết vì chúng ta chính là Con Thiên Chúa, Đấng đã hi sinh mạng sống mình vì chúng ta.”
Đức Leo nói thêm: “Cũng như Đấng Phục Sinh, hằng sống và hiện diện, giải thoát quá khứ khỏi một kết cục hủy diệt thế nào, thì lời loan báo Phục Sinh cứu chuộc tương lai của chúng ta khỏi nấm mồ như vậy”.
Đức Giáo Hoàng Leo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sứ điệp Tin Mừng đến với tất cả những người “bị áp bức bởi điều ác làm tha hóa lịch sử và làm rối loạn lương tâm,” đặc biệt đề cập đến những người đang chịu đựng chiến tranh, những người bị bách hại vì đức tin của họ, và trẻ em bị tước đoạt quyền được giáo dục.
Ngài nói: “Việc loan báo mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô bằng cả lời nói và việc làm có nghĩa là mang lại một tiếng nói mới cho niềm hy vọng – một niềm hy vọng bị dập tắt bởi bàn tay của những kẻ bạo lực”.
“Ở bất cứ nơi nào được loan báo, Tin Mừng soi sáng mọi bóng tối, trong mọi thời đại,” ngài nói thế, và trong lời chào gửi đến các tín hữu sau khi đọc kinh Nữ vương Thiên đàng, ngài cảm ơn mọi người vì những lời chúc mừng Phục Sinh và kêu gọi các Kitô hữu kiên trì “cầu xin ơn bình an cho toàn thế giới.”
Sau đây là chính sứ điệp của Đức Leo XIV, theo bản tiếng Anh của Tòa Thánh:
Anh chị em thân mến, Chúa Kitô đã sống lại! Chúc mừng Phục Sinh!
Lời chúc này, tràn đầy sự kinh ngạc và niềm vui, sẽ đồng hành cùng chúng ta suốt tuần này. Khi chúng ta cử hành ngày mới mà Chúa đã tạo dựng cho chúng ta, phụng vụ loan báo việc toàn thể tạo vật bước vào thời kỳ cứu độ: nhân danh Chúa Giêsu, nỗi tuyệt vọng của sự chết đã bị xóa bỏ mãi mãi.
Tin Mừng hôm nay (Mt 28:8–15) mời gọi chúng ta lựa chọn giữa hai câu chuyện: câu chuyện về những người phụ nữ gặp Chúa Phục Sinh (câu 9–11), và câu chuyện về những người lính canh bị các lãnh đạo Tòa Công nghị mua chuộc (câu 11–14). Câu chuyện thứ nhất loan báo chiến thắng của Chúa Kitô trước sự chết; câu chuyện thứ hai khẳng định rằng sự chết luôn luôn thắng thế trong mọi hoàn cảnh. Theo phiên bản của họ, Chúa Giêsu không sống lại; thay vào đó, thân xác Người đã bị đánh cắp. Từ cùng một sự kiện — ngôi mộ trống — hai cách giải thích nảy sinh: một là nguồn sống mới và vĩnh cửu, cách kia là cái chết chắc chắn và dứt khoát.
Sự tương phản này mời gọi chúng ta suy gẫm về giá trị của lời chứng Kitô giáo và sự chính trực trong truyền thông nhân bản. Thường thì, việc rao giảng chân lý bị che khuất bởi những gì ngày nay chúng ta gọi là “tin giả” — những lời dối trá, những lời bóng gió và những lời buộc tội vô căn cứ. Tuy nhiên, trước những trở ngại như vậy, chân lý không bị che giấu; trái lại, nó hiện ra để gặp gỡ chúng ta, sống động và rạng rỡ, soi sáng cả bóng tối sâu thẳm nhất. Cũng như Người đã nói với những người phụ nữ bên mộ, Chúa Giê-su nói với chúng ta ngày nay: “Đừng sợ hãi; hãy đi và loan báo” (câu 10). Bằng cách này, chính Người trở thành Tin Mừng để được làm chứng trong thế giới. Lễ Vượt Qua của Chúa là Lễ Vượt Qua của chúng ta — Lễ Vượt Qua của toàn thể nhân loại — vì người đã chết vì chúng ta chính là Con Thiên Chúa, Đấng đã hi sinh mạng sống mình vì chúng ta. Như Đấng Phục Sinh, hằng sống và hiện diện, giải thoát quá khứ khỏi một kết cục hủy diệt thế nào, lời loan báo Phục Sinh cứu chuộc tương lai của chúng ta khỏi nấm mồ như thế.
Các bạn thân mến, điều quan trọng biết bao là Tin Mừng này phải đến được với những người bị áp bức bởi điều ác làm tha hóa lịch sử và làm rối loạn lương tâm! Tôi nghĩ đến những dân tộc bị chiến tranh tàn phá, những Kitô hữu bị bách hại vì đức tin, những trẻ em bị tước đoạt quyền được giáo dục. Việc loan báo mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô bằng cả lời nói lẫn việc làm có nghĩa là mang lại một tiếng nói mới cho niềm hy vọng — một niềm hy vọng bị bóp nghẹt bởi bàn tay của những kẻ bạo lực. Bất cứ nơi nào được loan báo, Tin Mừng soi sáng mọi bóng tối, trong mọi thời đại.
Với lòng yêu mến đặc biệt, trong ánh sáng của Chúa Phục Sinh, hôm nay chúng ta tưởng nhớ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, người đã trở về với Chúa vào ngày thứ Hai Phục Sinh năm ngoái. Khi chúng ta nhớ lại chứng nhân sâu sắc về đức tin và tình yêu của ngài, chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria, Ngai Tòa Khôn Ngoan, để chúng ta ngày càng trở thành những người loan báo chân lý rạng rỡ hơn.
___________________________
Sau kinh Nữ vương Thiên đàng:
Anh chị em thân mến,
Tôi nồng nhiệt chào đón tất cả anh chị em, những người hành hương thân mến từ Ý và nhiều quốc gia khác. Đặc biệt, tôi chào mừng các bạn trẻ từ Giáo hạt Appiano Gentile. Tôi hướng suy nghĩ đến tất cả những người ở khắp nơi trên thế giới đang tham gia vào các sáng kiến được tổ chức cho “Ngày Thể thao Quốc tế vì Phát triển và Hòa bình”, và tái khẳng định lời kêu gọi của tôi rằng thể thao, với ngôn ngữ phổ quát của tình huynh đệ, hãy là nơi của sự hòa nhập và hòa bình.
Tôi cảm ơn tất cả những người đã gửi cho tôi những lời chúc tốt lành nhân dịp Phục Sinh trong những ngày này. Tôi đặc biệt biết ơn những lời cầu nguyện của anh chị em. Nhờ sự cầu bầu của Đức Mẹ Maria, xin Chúa ban thưởng cho mỗi người trong anh chị em những ơn lành của Ngài!
Tôi hy vọng anh chị em sẽ trải qua ngày Thứ Hai Phục Sinh này và những ngày Tuần Bát Nhật Phục Sinh – trong đó chúng ta tiếp tục cử hành sự Phục Sinh của Chúa Kitô – trong niềm vui và đức tin. Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho ơn bình an cho toàn thế giới.
Chúc mừng Thứ Hai Phục Sinh!
Đàng Thánh Giá tại Thánh Địa
Đặng Tự Do
17:54 06/04/2026
Cha Ibrahim Faltas, Hiệu trưởng các trường thuộc Tòa Giám quản Thánh Địa, suy ngẫm về việc vào sáng Thứ Sáu Tuần Thánh, 10 tu sĩ dòng Phanxicô đã có thể thực hiện nghi thức cổ xưa của Đường Thánh Giá qua Thành Cổ Giêrusalem.
Kể từ ngày 28 tháng 2, chúng tôi không thể sống trọn vẹn mùa Chay đầy ý nghĩa do chiến tranh lan rộng khắp Trung Đông, thậm chí ảnh hưởng đến cả Giêrusalem. Vì lý do tương tự, chúng tôi không thể tụ họp đông đảo để tham gia các nghi thức và phụng vụ của Tam Nhật Thánh, vốn gắn bó chặt chẽ qua hàng thiên niên kỷ với những nơi đã chứng kiến và trải nghiệm cuộc đời của Chúa chúng ta, và sau đó là cuộc Khổ nạn và Cái chết đau đớn của Ngài.
Những ngày và giờ của Tam Nhật Phục Sinh xen kẽ giữa nỗi đau của một Chúa Giêsu bị phản bội và chối bỏ, việc Ngài bị bắt và bị kết án tử hình, bóng tối của sự cô đơn và sự phó thác cho ý muốn của Chúa Cha, trước khi cuối cùng được nhìn thấy Ánh Sáng.
Hành trình Đường Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2026 qua Thành phố Cổ Giêrusalem, suy niệm về những khổ nạn của Chúa Giêsu dưới sức nặng của Thánh Giá dọc theo Via Dolorosa, chỉ có 10 tu sĩ dòng Phanxicô tham dự, do Cha Francesco Ielpo, Bề Trên Tổng Quyền Thánh Địa, dẫn đầu.
Tôi nhớ lại Chặng đường Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2020, khi mà do những hạn chế của đại dịch, chỉ có Cha Francesco Patton, người phụ trách lúc bấy giờ, tôi và Cha Marcelo Cicchinelli, người trông coi nhà thờ Cứu Thế, mới có thể đi bộ trên Via Dolorosa, suy niệm và cầu nguyện theo lòng sùng kính rất được các tín hữu hành hương và địa phương trân trọng—mà không có sự hiện diện của họ và dưới sự giám sát chặt chẽ của khoảng năm mươi binh lính.
Chúng ta không biết chính xác khi nào lòng sùng kính Đường Thánh Giá ở Thành cổ Giêrusalem bắt đầu, khi người ta suy niệm về những đau khổ của Chúa Giêsu dưới sức nặng của Thập tự giá. Chúng ta có thể hình dung rằng Đức Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã đi lại con đường ấy như Con mình, có lẽ không lâu sau khi Người qua đời; chúng ta có thể hình dung nỗi đau trong trái tim đau buồn của một người Mẹ khi nhìn thấy lại những hòn đá nơi Con mình ngã xuống, nghe thấy tiếng bước chân của Người, và tiếp tục đau khổ vì những sự sỉ nhục mà Người đã chịu đựng.
Người hành hương Egeria đã loan truyền tin tức về nghi lễ tôn giáo ở Giêrusalem tưởng niệm Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu tại chính những nơi đã diễn ra sự kiện đó. Nhiều người hành hương, nhà biên niên sử và nhà sử học đã để lại dấu vết của lòng sùng kính này, nhưng có lẽ chính lòng sùng kính của Thánh Phanxicô đối với Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu đã thúc đẩy nghi lễ đạo đức này, như một kết quả của chuyến hành hương hòa bình của ngài đến Thánh Địa. Vị Thánh Assisi yêu mến Chúa Giêsu vô cùng; ngài đã thực hiện Chuyến Hành trình Thánh với ước muốn mãnh liệt được viếng thăm và chăm sóc các Thánh Địa. Tôi thích hình dung rằng chính trên con đường Via Dolorosa mà Thánh Phanxicô đã nuôi dưỡng ước vọng cho các tu sĩ của mình trở thành người trông coi các Thánh Địa. Ngài yêu mến Chúa Giêsu Hài Đồng với lòng dịu dàng; ngài muốn ghi nhớ Ngài và giữ Ngài luôn hiện diện trước mắt và trong trái tim mình bằng cách dàn dựng cảnh Chúa Giáng Sinh đầu tiên ở Greccio.
Từ năm 1333—gần bảy trăm năm nay—chúng tôi đã gìn giữ ký ức về các Thánh Địa, và theo sắc lệnh của Tòa Thánh từ năm 1342, khi Đức Giáo Hoàng Clement VI chính thức yêu cầu chúng tôi “cư ngụ tại các Thánh Địa và cử hành Thánh Lễ và các Kinh Nhật tụng tại đó”. Đối với chúng tôi, những tu sĩ dòng Phanxicô, đây là một đặc ân mà chúng tôi hết lòng gìn giữ và là một vinh dự cho phép chúng tôi đối mặt với những khó khăn và gian khổ ở một vùng đất được thánh hóa bởi sự hiện diện của Chúa, nhưng cũng bị tổn thương và cay đắng bởi các xung đột và căng thẳng.
Trên hành trình dẫn chúng ta đến Lễ Phục Sinh năm 2026, chúng tôi đã chứng kiến bạo lực, cái chết và nỗi đau buồn trước sự đau khổ của biết bao anh chị em bị tước đoạt nhiều quyền lợi, bị tước đoạt tình yêu thương. Tuy nhiên, chúng tôi có thể ghi nhận một niềm vui huynh đệ và một vinh dự lớn lao cho Giáo phận Thánh Địa: Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đích thân yêu cầu Cha Francesco Patton, cựu Bề Trên Tổng Quyền Thánh Địa, chuẩn bị các bài suy niệm cho Đường Thánh Giá, được cử hành hàng năm tại Đấu trường Rôma và do chính Đức Giáo Hoàng chủ trì. Một khoảnh khắc ân sủng cho Giáo phận Thánh Địa giữa bao gian khổ cho một vùng đất đã chứng kiến sự đau khổ của Chúa Kitô, nay được phản ánh trong sự đau khổ của một nhân loại bị tổn thương và đau đớn.
Source:Vatican News
Khi các Giám mục Công Giáo chỉ trích Tổng thống, hãy chú ý lắng nghe các ngài
J.B. Đặng Minh An dịch
17:56 06/04/2026
Linh mục Raymond J. de Souza, là chủ bút tập san Công Giáo Convivium của Canada. Trong bài phân tích nhan đề “When Catholic Bishops Criticize Presidents, Pay Attention”, nghĩa là “Khi các Giám mục Công Giáo chỉ trích Tổng thống, hãy chú ý lắng nghe các ngài.”
Những ngày qua là khoảng thời gian vô cùng căng thẳng đối với các giám mục Mỹ liên quan đến các chính sách của chính quyền Tổng thống Trump. Một thời điểm tương tự đã xảy ra cách đây 5 năm, tại lễ nhậm chức của Tổng thống Joe Biden năm 2021, và những bài học từ đó vẫn còn phù hợp cho đến ngày nay.Giám mục Robert Barron của Winona-Rochester, Minnesota, đã lên án “bạo lực, trả thù, đe dọa, biểu tình, nghi ngờ sâu sắc lẫn nhau, bất ổn chính trị và nỗi sợ hãi” trong tiểu bang của mình, đồng thời kêu gọi các cơ quan quản lý nhập cư “hạn chế, ít nhất là trong thời điểm hiện tại, chỉ bắt giữ những người nhập cư bất hợp pháp đã phạm tội nghiêm trọng”.
Đồng thời, ngài viết rằng, “các nhà lãnh đạo chính trị nên ngừng kích động sự bất mãn đối với các viên chức đang nỗ lực thực thi pháp luật của đất nước, và những người biểu tình nên ngừng can thiệp vào công việc của ICE.”
Đức Tổng Giám Mục Timothy Broglio của Tổng giáo phận phục vụ quân đội đã có một cuộc phỏng vấn vô cùng mạnh mẽ với chương trình phát thanh Chúa Nhật của BBC, bày tỏ lo ngại rằng tuyên bố của Tổng thống Trump rằng ông chỉ bị ràng buộc bởi “đạo đức của tôi” là một vấn đề “đáng quan ngại” vì nó coi thường “luật pháp quốc tế” và “các nguyên tắc đạo đức cần hướng dẫn tất cả chúng ta”.
Đức Tổng Giám Mục còn nói thêm rằng bất kỳ hành động quân sự nào của Mỹ, đặc biệt là ở Greenland, đều sẽ không “hợp lý”. Việc “xâm lược một quốc gia thân thiện” là không thể chấp nhận được, và một chiến dịch quân sự như vậy sẽ không đáp ứng “các tiêu chuẩn của một cuộc chiến tranh chính nghĩa”. Hơn nữa, những lời lẽ của Tổng thống Trump “làm hoen ố hình ảnh của Hoa Kỳ trên thế giới”.
Tổng thống Trump đã có những phát ngôn khác nhau về việc sử dụng vũ lực để chiếm Greenland. Đức Tổng Giám Mục Broglio tuyên bố rằng, liên quan đến việc xâm lược Greenland, việc “không tuân theo mệnh lệnh đó là điều có thể chấp nhận được về mặt đạo đức”.
Ba Hồng Y người Mỹ — Blase Cupich của Chicago, Robert McElroy của Washington và Joseph Tobin của Newark — đã đưa ra một tuyên bố chung vào thứ Hai, “Định hướng tầm nhìn đạo đức cho chính sách đối ngoại của Mỹ”. Các ngài bày tỏ lo ngại rằng “vai trò đạo đức của đất nước chúng ta trong việc đối phó với cái ác trên khắp thế giới, bảo vệ quyền sống và phẩm giá con người, và ủng hộ tự do tôn giáo đều đang bị xem xét”.
Nhấn mạnh rằng “phá thai và an tử là những hành động phá hoại” “quyền sống, vốn là nền tảng không thể thiếu cho mọi quyền con người khác”, ba vị Hồng Y cũng bày tỏ lo ngại về “xu hướng các quốc gia giàu có giảm hoặc loại bỏ đóng góp của họ cho các chương trình viện trợ nhân đạo nước ngoài”, cũng như “sự gia tăng các vi phạm lương tâm và tự do tôn giáo nhân danh sự thuần khiết về ý thức hệ hoặc tôn giáo, đang bóp nghẹt chính tự do”.
Các Hồng Y Cupich, McElroy và Tobin là ba Hồng Y người Mỹ duy nhất hiện đang đứng đầu các giáo phận ở Hoa Kỳ. Tất cả những người còn lại đều đã nghỉ hưu từ các tổng giáo phận (Daniel DiNardo, Seán O'Malley, Wilton Gregory và Timothy Dolan) hoặc đang giữ các chức vụ ở Rôma.
“Chúng tôi lên án chiến tranh như một công cụ phục vụ lợi ích quốc gia hẹp hòi và tuyên bố rằng hành động quân sự chỉ nên được xem là biện pháp cuối cùng trong những tình huống cực đoan, chứ không phải là một công cụ thông thường trong chính sách quốc gia”, ba vị Hồng Y viết.
Đây là một thời điểm quan trọng — vị giám mục nổi tiếng nhất nước Mỹ về truyền thông Barron, cựu chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ Broglio và ba Hồng Y thường trú bày tỏ sự không hài lòng với chính quyền Tổng thống Trump về một loạt vấn đề.
Những lời chỉ trích xuất hiện đúng 5 năm sau khi Đức Tổng Giám Mục José Gómez của Los Angeles, khi đó là chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, gọi tắt là USCCB, đưa ra tuyên bố vào ngày lễ nhậm chức của Tổng thống Joe Biden hồi Tháng Giêng năm 2021.
Tuyên bố này là kết quả của các cuộc tham khảo ý kiến với một “nhóm làm việc” đặc biệt của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, gọi tắt là USCCB, nhóm đã thảo luận về cách thức tương tác với vị tổng thống Công Giáo đầu tiên kể từ thời JFK, đặc biệt là trong bối cảnh Tổng thống Biden từ lâu đã ủng hộ những quan điểm trái ngược với giáo lý Công Giáo về các vấn đề sự sống, hôn nhân và gia đình. Tuyên bố đó đã gây ra một số tranh cãi vì Hồng Y Cupich đã công khai chỉ trích nó là “thiếu cân nhắc”. Ngài là người duy nhất có quan điểm đó, trong khi một số giám mục khác ủng hộ Đức Tổng Giám Mục Gómez, nhưng sự chia rẽ công khai giữa các giám mục đã tạo ra các đồn thổi trong dư luận.
Tuyên bố năm 2021 của Đức Tổng Giám Mục Gómez đáng được xem xét lại, vì nó đã đề cập đến nhiều điểm được nhấn mạnh trong tuyên bố chung của các Hồng Y tuần này. Có ba lĩnh vực cụ thể mà tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gómez vẫn còn phù hợp.
Thứ nhất, đó là lời chứng của những người Công Giáo giữ các vị trí quan trọng trong đời sống công cộng.
“Làm việc với Tổng thống Biden sẽ là một trải nghiệm độc đáo, bởi ông là vị tổng thống đầu tiên của chúng ta trong 60 năm qua tuyên xưng đức tin Công Giáo,” Đức Tổng Giám Mục Gómez viết. “Trong thời đại chủ nghĩa thế tục ngày càng gia tăng và mạnh mẽ trong văn hóa Mỹ, khi những người có tín ngưỡng phải đối mặt với nhiều thách thức, thật sảng khoái khi được hợp tác với một vị Tổng thống hiểu rõ, một cách sâu sắc và cá nhân, tầm quan trọng của đức tin và các thể chế tôn giáo. Lòng mộ đạo và câu chuyện cá nhân của Tổng thống Biden, lời chứng cảm động của ông về cách đức tin đã mang lại cho ông sự an ủi trong những thời điểm tăm tối và bi kịch, cam kết lâu dài của ông đối với ưu tiên của Phúc Âm dành cho người nghèo — tất cả những điều này tôi thấy đầy hy vọng và truyền cảm hứng.”
Đức Tổng Giám Mục Gómez đã có sự cân bằng đúng đắn về vấn đề những người Công Giáo thực hành đức tin đang giữ chức vụ công. Vì đại đa số người Công Giáo Mỹ không tuân thủ nghĩa vụ tham dự Thánh lễ Chúa Nhật (Điều răn thứ ba), nên việc bắt đầu bằng việc ca ngợi tấm gương đáng ngưỡng mộ của Tổng thống Biden trước khi chuyển sang các vấn đề khác như phá thai (Điều răn thứ năm) là điều đúng đắn.
Sự cân bằng đó thường bị mất đi trong các cuộc tranh luận sau này về việc liệu các chính trị gia Công Giáo tham dự Thánh lễ và ủng hộ quyền phá thai có nên được rước lễ hay không. Chính việc tham dự Thánh lễ đã tạo nên sự khác biệt giữa trường hợp của Tổng thống Biden so với hầu hết các chính trị gia Công Giáo không tham dự Thánh lễ, vì vậy vấn đề rước lễ không phát sinh.
Nhiều người Công Giáo thường xuyên tham dự Thánh lễ Chúa Nhật có những khía cạnh trong cuộc sống khiến họ nên tránh rước lễ. Đối với họ, việc ưu tiên lòng sùng kính và thờ phượng Chúa trước tiên là điều đúng đắn. Nhiều người khác — cả các linh mục và nhà bình luận — đã không noi theo gương của Đức Tổng Giám Mục Gómez trong những năm sau đó. Với một phó tổng thống đương nhiệm cũng là người Công Giáo, những vấn đề này lại nổi lên.
Vấn đề thứ hai mà Đức Tổng Giám Mục Gómez nêu ra là mối quan hệ giữa đức tin Công Giáo và chủ nghĩa đảng phái.
“Chúng tôi làm việc với mọi Tổng thống và mọi Quốc hội,” Đức Tổng Giám Mục viết. “Về một số vấn đề, chúng tôi nghiêng về phía đảng Dân chủ hơn, trong khi về những vấn đề khác, chúng tôi lại đứng về phía đảng Cộng hòa. Ưu tiên của chúng tôi không bao giờ mang tính đảng phái. Trước hết, chúng tôi là người Công Giáo, chỉ tìm cách trung thành noi theo Chúa Giêsu Kitô và thúc đẩy tầm nhìn của Ngài về tình huynh đệ và cộng đồng nhân loại.”
Giáo hội là một cộng đồng các môn đệ, chứ không phải một đảng phái chính trị. Sứ mệnh của một cộng đồng là phát triển, là kết nạp những người khác vào cùng một mối dây sự sống, tình yêu và ân sủng. Một đảng phái chính trị, theo định nghĩa, tìm cách đánh bại các đối thủ của mình — lý tưởng nhất là bằng sự lịch sự và hòa hợp, nhưng dù sao cũng phải tìm cách thắng thế. Tinh thần bè phái không phù hợp với sự hiệp thông đích thực.
Trong năm năm kể từ tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gómez, tinh thần bè phái chỉ càng gia tăng trong văn hóa đại chúng, và chủ nghĩa bè phái ngày càng có nhiều chỗ đứng trong Giáo Hội Công Giáo. Đã xuất hiện những tiếng nói lớn khẳng định rằng người Công Giáo chỉ được phép, hoặc không bao giờ được phép, ủng hộ một đảng phái chính trị cụ thể nào.
Ba vị Hồng Y đã bày tỏ sự tiếc nuối về chính sự thiên vị đó trong tuyên bố tuần này.
“Việc xây dựng nền hòa bình công bằng và bền vững, điều vô cùng quan trọng đối với hạnh phúc của nhân loại hiện nay và trong tương lai, đang bị thu hẹp lại thành những phạm trù phe phái, khuyến khích sự phân cực và các chính sách phá hoại”, các ngài viết.
Một khía cạnh thứ ba mà Đức Tổng Giám Mục Gómez đã nêu ra cách đây 5 năm là nhu cầu về “sự hàn gắn và đoàn kết quốc gia”.
“Điều này vô cùng cần thiết khi chúng ta đang đối mặt với những tổn thương trong nước do đại dịch virus corona gây ra và sự cô lập xã hội, vốn chỉ làm trầm trọng thêm những chia rẽ sâu sắc và âm ỉ từ lâu giữa những người dân của chúng ta”, ngài viết.
Đại dịch đã qua, nhưng sự cô lập xã hội và những chia rẽ vẫn còn tồn tại — thường không âm ỉ lâu mà đã bùng phát dữ dội.
“Là những người có đức tin, chúng ta hiểu rằng sự chữa lành là một món quà mà chúng ta chỉ có thể nhận được từ bàn tay của Chúa,” Đức Tổng Giám Mục viết. “Chúng ta cũng biết rằng sự hòa giải thực sự đòi hỏi sự lắng nghe kiên nhẫn những người bất đồng quan điểm với chúng ta và sự sẵn lòng tha thứ, vượt qua những mong muốn trả thù. Tình yêu Kitô giáo kêu gọi chúng ta yêu thương kẻ thù và chúc phúc cho những người chống đối chúng ta, và đối xử với người khác bằng lòng thương xót mà chúng ta mong muốn nhận được cho chính mình. “
Liệu các giám mục Công Giáo có đủ tư cách để trở thành những người mang lại sự hàn gắn không? Có lẽ là tốt hơn so với các nhà lãnh đạo khác.
Các giám mục Công Giáo ít bị cô lập trong “bong bóng kỹ thuật số” hơn nhiều người khác; mỗi ngày các ngài đều gặp gỡ các thành viên trong giáo dân của mình trong những hoàn cảnh khác nhau, đối mặt với những thách thức riêng.
Đức Tổng Giám Mục Broglio quan tâm đến các quân nhân có thể bị yêu cầu tham gia vào một cuộc chiến tranh phi nghĩa — hoặc để thực thi luật pháp chính đáng trước các cuộc biểu tình. Giám mục Barron lại nhìn thấy xung đột và sự thù hận trên đường phố của chính tiểu bang mình. Các giám mục nói chung đã đưa ra một thông điệp đặc biệt vào tháng 11 năm ngoái, lưu ý rằng họ đã trực tiếp chứng kiến “trong cộng đồng của chúng ta một bầu không khí sợ hãi và lo lắng xung quanh các vấn đề về phân biệt đối xử và thực thi luật nhập cư”.
Mỗi giáo xứ đều có những quan điểm khác nhau, và mỗi linh mục quản xứ phải tìm cách thống nhất giữa các quan điểm đó. Các nhà lãnh đạo Công Giáo có kinh nghiệm thực tiễn trong việc thúc đẩy sự hàn gắn và duy trì sự hiệp nhất.
Những tuyên bố trong những tuần qua, theo nhiều cách khác nhau, là sự lặp lại những gì Đức Tổng Giám Mục Gómez đã viết cách đây năm năm. Liệu thông điệp này có được đón nhận rộng rãi hơn bây giờ không?
Source:National Catholic Register
Linh đạo hành hương: Sự mệt mỏi của cuộc hành hương… chính là điểm mấu chốt.
Vũ Văn An
18:02 06/04/2026

Michael Rennier, trong bản tin Aleteia ngày 06/04/2026, kể lại rằng:
Vào một buổi sáng thứ Hai tuần trước, tôi thức dậy sớm, thu xếp hành lý, và vợ tôi đưa tôi đến sân bay. Trong hai tuần tiếp theo, tôi sẽ hành hương đến Rome cùng các học sinh cuối cấp từ Học viện Chesterton. Tôi đến chỗ nhóm đang tập trung bên trong nhà ga. Chúng tôi điểm danh và đi đến quầy làm thủ tục cho chuyến bay. Chuyến bay bị hủy. Không có lựa chọn thay thế nào khác.
Sau nửa tiếng ở quầy dịch vụ, cuối cùng chúng tôi cũng có được một kế hoạch thay thế… tám tiếng sau đó. Tôi gọi cho người vợ kiên nhẫn của mình và nàng quay lại đón tôi. Chiều hôm đó, chúng tôi quay lại lần thứ hai. Lần này chúng tôi cần bay đến Denver (ngược hướng với Rome đối với chúng tôi) và sau đó bắt chuyến bay sáng hôm sau đến Frankfurt rồi tiếp tục đến Rome. Mất ngủ và kiệt sức, chúng tôi đến Frankfurt muộn hơn một ngày. Ở đó, chúng tôi được thông báo rằng chúng tôi chưa bao giờ được đặt chỗ trên chuyến bay đến Rome và chỉ có thể đặt lại chỗ cho chuyến bay sau đó năm tiếng.
Năm tiếng đồng hồ thêm ở sân bay với một nhóm lớn những thanh thiếu niên thiếu ngủ nhưng lại tràn đầy năng lượng một cách kỳ lạ. Thực ra, họ xử lý tình huống tốt hơn tôi. Họ thật tuyệt vời. Tôi cảm thấy và trông như một thây ma. Khi đến Rome, người dẫn đoàn hành hương của chúng tôi hỏi trên xe buýt vào thành phố liệu tôi có muốn dẫn dắt nhóm cầu nguyện không. Tôi nhìn cô ấy với vẻ không hiểu. Đó là lý do tại sao tôi mệt mỏi đến vậy.
Sau khi hồi phục một chút, tôi suy gẫm về sự kiệt sức của một người hành hương – tất cả những bất tiện, chi phí và mệt mỏi. Trước khi có phương tiện giao thông hiện đại, những người hành hương đi bộ hoặc thực hiện những chuyến đi nguy hiểm trên biển. Tôi chắc chắn rằng khi họ đến Rome, chân mỏi nhừ và đói khát, để chiêm ngưỡng mặt tiền lấp lánh của nhà thờ St. Mary Major, nó sẽ giống như một Jerusalem mới vàng rực rỡ, đầy mê hoặc. Một sự tương phản tuyệt vời, cảnh tượng hẳn đã rất choáng ngợp.
Vô cùng mệt mỏi
Ngày nay, các cuộc hành hương dễ dàng hơn nhiều. Máy bay hiện đại là một điều kỳ diệu, gần như là một phép lạ về sự tiện lợi và tốc độ. Bạn lên máy bay và vài giờ sau đã ở phía bên kia thế giới. Nhưng dù vậy, trải nghiệm phải xoay xở ở khu vực gửi đồ ở sân bay, hành lý, đi qua máy dò kim loại và các biện pháp an ninh khác, các chuyến bay bị hoãn, bị hủy, thiếu ngủ… vẫn vô cùng mệt mỏi.
Tôi từng đạp xe hàng trăm dặm đến Đền thờ Đức Mẹ Guadalupe ở Wisconsin. Tôi yêu thích sự khó khăn về thể chất của chuyến đi. Tôi yêu thích việc nỗ lực cuối cùng để leo lên ngọn đồi đến chính đền thờ. Sau đó, tôi cảm thấy như thể mình đã nhịn ăn trước một bữa tiệc thịnh soạn. Sự mệt mỏi của chuyến đi khiến niềm vui khi đến đích càng thêm mãnh liệt. Điều này tương tự như việc ngắm nhìn cảnh núi non sẽ đẹp hơn nhiều nếu bạn leo bộ thay vì lái xe.
Để đến Rome, ở Mỹ chúng tôi không có tuyến đường đi bộ hay xe đạp nào, vì vậy chuyến vượt Đại Tây Dương được thực hiện trong sự thoải mái của ghế máy bay. Tuy nhiên, những bất tiện là có thật. Chúng tôi đến nơi muộn gần hai ngày so với dự kiến, căng thẳng, kiệt sức và chỉ ăn đồ ăn ở sân bay. Tôi thầm tiếc nuối thời gian đã mất ở sân bay thay vì được đến Rome – thì chợt nhận ra rằng Chúa đang ban cho chúng tôi một cơ hội. Chúng tôi được ban cho cơ hội, dù nhỏ bé, để chịu đựng trên đường đến Rome.
Một cuộc hành hương sẽ hiệu quả nhất khi có những bất tiện. Những người hành hương được lợi từ đôi chân mệt mỏi và những ngày dài. Than phiền về điều đó sẽ làm mất đi giá trị của cuộc hành trình. Hilaire Belloc, người nổi tiếng với những chuyến hành hương dài và gian khổ, nhận xét rằng điểm mấu chốt là để giải thoát bản thân khỏi những tiện nghi thường nhật của cuộc sống để tìm kiếm sự chuyển hóa tâm linh. Ông viết: “Tôi sẽ nhìn thấy tất cả những gì có thể về con người và vạn vật; vì bất cứ điều gì vĩ đại và đáng giá chỉ là một điều bình thường được biến đổi.”
Đối với ông, toàn bộ trải nghiệm đều được bao hàm. Ông trân trọng không chỉ điểm đến mà cả chính hành trình. Ông viết: “Tôi sẽ viếng mộ một vị thánh… nhưng trên đường đi, tôi muốn làm một điều gì đó hơi khó khăn để thể hiện cái giá mà tôi phải trả để được hiệp thông với nơi an nghỉ của ngài.”
Đó là một cái giá nhỏ phải trả, ông nói, và nó cho phép chúng ta tham gia theo cách biến chuyến đi từ du lịch đơn thuần thành một trải nghiệm chuyển hóa. Thông qua đau khổ, mọi phần của chuyến đi đều được thay đổi, mọi phần đều đáng được trân trọng. Ngay cả việc ngồi trong nhà ga sân bay 10 tiếng đồng hồ cũng mang lại sự giác ngộ tâm linh.
Nhằm mục đích làm chúng ta bàng hoàng... giống như cuộc sống vậy.
Belloc đã tìm kiếm con đường khó khăn, gian khổ nhất có thể trong những chuyến hành hương đi bộ của mình, nói rằng trải nghiệm đó nhằm mục đích "làm chúng ta bàng hoàng theo một cách nào đó", phá vỡ sự ổn định của chúng ta. Những ảo tưởng về sức mạnh, dẫn chúng ta đến sự thừa nhận điểm yếu, và nhờ đó chuẩn bị cho chúng ta đón nhận ân sủng. Tôi gần như nghĩ rằng, nếu cuộc hành trình quá dễ dàng và thuận tiện, tôi đã bỏ lỡ điều gì đó. Tôi cần phải bị đẩy đến bờ vực của sự nhàm chán và than phiền để nhận ra mình mong manh đến mức nào. Tôi không thể chịu đựng được việc thiếu ngủ và buồn chán dù chỉ hai ngày trước khi trở nên cáu kỉnh, và giờ tôi biết mình vẫn còn một chặng đường dài phía trước và rất nhiều ân sủng chưa được đón nhận. Tôi cần tất cả.
Sự nhận thức về nhu cầu của tôi chính là điều đã cho phép tôi, khi cuối cùng chúng tôi đã đến nơi, quỳ xuống trong kiệt sức tại những thánh địa của Rome. Chúa chúng ta là một người hành hương đến Thập tự giá. Thánh Phêrô và Thánh Phaolô là những người hành hương đến sự tử đạo. Có lẽ, theo cách khiêm tốn và bất toàn của mình, tôi có thể là một người hành hương đã học cách chết đi một chút nữa đối với những kỳ vọng của bản thân, một người đàn ông mệt mỏi và biết ơn, người từ nay sẽ dựa vào Chúa nhiều hơn.
Từ Artemis II đến Đức Giáo Hoàng Phanxicô: Một sự thay đổi trong góc nhìn
Vũ Văn An
18:44 06/04/2026

Cerith Gardiner, trong bản tin Aleteia ngày 06/04/2026, nhận định rằng: Khi chúng ta kỷ niệm ngày mất của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, một suy gẫm từ sứ vụ Artemis II mang đến một lời mời gọi tương tự đáng kinh ngạc: hãy nhìn nhận mọi thứ một cách khác.
Trong chuyến hành trình hướng tới mặt trăng trong sứ vụ Artemis II của NASA, phi hành gia Victor Glover nhận thấy mình đang làm một điều vô cùng nhân bản: nhìn lại.
Từ khoảng cách đó, Trái đất không còn hiện lên như bị chia cắt hay phức tạp, mà là một thể thống nhất, mong manh và đẹp đến kinh ngạc, và chính từ vị trí thuận lợi đó, ông đã đưa ra một suy gẫm về Lễ Phục Sinh càng trở nên nổi bật hơn bởi sự rõ ràng của nó:
“Khi chúng ta ở rất xa Trái đất và nhìn vào vẻ đẹp của tạo hóa, tôi thực sự có thể thấy Trái đất như một thể thống nhất.”
Những gì ông mô tả không chỉ đơn thuần là hình ảnh, mà gần như mang tính hiện sinh, bởi vì điều biến mất ở khoảng cách đó không phải là chính hành tinh, mà là cách chúng ta thường nhìn nhận nó. Như ông tiếp tục nói:
“Bạn đang ở trên một con tàu vũ trụ gọi là Trái đất… được tạo ra để cho chúng ta một nơi để sinh sống.” Hình ảnh ấy nhẹ nhàng định hình lại mọi thứ, bởi vì từ góc nhìn đó, những sự chia rẽ đang chiếm giữ chúng ta bắt đầu mất đi sức nặng, và những gì còn lại là điều được chia sẻ, điều được trao tặng, điều vốn dĩ không bao giờ được định sẵn để bị chia cắt. Phi hành gia đã đưa ra một lời nhắc nhở quan trọng:
“Bạn thật đặc biệt, giữa tất cả sự trống rỗng này… bạn có ốc đảo này.”
Một sự thay đổi trong góc nhìn
Có điều gì đó mang đậm chất Phục Sinh trong sự nhận thức đó, bởi vì nó chuyển trọng tâm khỏi những gì đã tan vỡ sang những gì đã được trao tặng, không phải bằng cách phủ nhận sự đau khổ, mà bằng cách đặt nó trong một điều gì đó lớn lao hơn.
Bản thân Lễ Phục Sinh, về bản chất, là một sự thay đổi trong góc nhìn. Sự Phục Sinh không xóa bỏ đau khổ hay xóa đi những gì đã xảy ra, nhưng nó biến đổi cách nhìn nhận, cho thấy rằng những gì từng được coi là kết thúc thì không phải vậy, và ngay cả cái chết cũng không phải là lời cuối cùng.
Thật khó để không nghĩ đến Đức Giáo Hoàng Phanxicô, người, khi phát biểu từ bệnh viện vào ngày 2 tháng 3 năm 2025, đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc tương tự đáng kinh ngạc khi ngài nói, với sự giản dị đặc trưng, “Từ đây, chiến tranh dường như càng trở nên phi lý hơn.” Từ không gian, Trái đất hiện ra như một thể thống nhất; từ một nơi đầy bệnh tật, chiến tranh dường như thật phi lý; và trong cả hai trường hợp, điều hiện ra không phải là một thực tại mới, mà là một thực tại rõ ràng hơn, như thể khoảng cách cho phép chúng ta nhìn thấy những gì mà sự gần gũi che khuất.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô còn đi xa hơn nữa, khi suy gẫm rằng “sự yếu đuối của con người có sức mạnh giúp chúng ta sáng suốt hơn về những gì trường tồn và những gì sẽ qua đi”, một câu nói mang một ý nghĩa đặc biệt trong ngày hôm nay, khi chúng ta kỷ niệm Thứ Hai Phục Sinh, ngày ngài qua đời, và giờ đây, bên cạnh niềm vui thầm lặng, nó còn mang một ý nghĩa sâu sắc hơn về góc nhìn.
Điều mà cả hai tiếng nói đều gợi ý, theo những cách rất khác nhau, là khi chúng ta bị tách rời khỏi trung tâm của mọi thứ, dù là do khoảng cách hay do sự yếu đuối, chúng ta bắt đầu nhìn thấy mọi thứ chân thực hơn, không phải vì thế giới đã thay đổi, mà vì cách nhìn nhận của chúng ta về nó đã thay đổi.
Lễ Phục Sinh mời gọi chính sự thay đổi đó, không phải bằng cách đưa chúng ta ra khỏi thế giới, mà bằng cách mời gọi chúng ta nhìn nhận nó một cách khác biệt, để nhận ra rằng bên dưới tất cả những gì chia rẽ và làm xao nhãng, vẫn còn đó một điều gì đó níu giữ, một điều gì đó không bao giờ qua đi, và một khi đã thoáng thấy, thì khó mà quên được.
Một cử chỉ của phi hành gia và ngôn ngữ mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ

Trong khi đó, Cerith Gardiner, trong bản tin Aleteia ngày 03/04/2026, cho hay: Trước sứ vụ Artemis II của NASA, phi hành gia Reid Wiseman đã chia sẻ một cử chỉ đơn giản với các con gái của ông — một cử chỉ nói lên, một cách lặng lẽ, tình yêu thương và niềm tin.
Thực vậy, khi chuẩn bị rời Trái đất trong một trong những sứ mệnh đầy tham vọng nhất thời đại, Reid Wiseman, chỉ huy sứ vụ Artemis II của NASA, đã không dùng lời nói mà dùng một điều gì đó đơn giản hơn nhiều, và có lẽ mạnh mẽ hơn nhiều.
Đứng cách xa hai cô con gái của mình, trong những giây phút cuối cùng trước khi khởi hành, ông giơ tay lên và tạo thành hình trái tim. Đó là một cử chỉ thoáng qua, dễ bị bỏ qua trong bối cảnh những gì sắp xảy ra, nhưng nó lại mang một sức nặng mà không lời nói nào có thể diễn tả được.
Hướng về hai cô con gái của mình, cử chỉ ấy trở thành cách nói lên tất cả những điều không thể nói thành lời trong khoảnh khắc chia ly đó. Cử chỉ giản dị ấy là cách ông thể hiện tình yêu thương và sự trấn an trước khi bắt đầu một hành trình đưa ông đi xa Trái đất hơn bất cứ sứ mệnh nào của con người trong nhiều thập niên qua.
Wiseman không chỉ là một phi hành gia, mà còn là một người cha có cuộc đời đã được đánh dấu bởi cả sự tận tâm và mất mát, nuôi dạy các con gái sau cái chết của vợ mình trong khi vẫn tiếp tục phục vụ ở cấp bậc cao nhất trong nghề nghiệp.
Và điều làm cho khoảnh khắc ấy trở nên nổi bật không chỉ là sự cộng hưởng về mặt cảm xúc, mà còn là ngôn ngữ mà nó sử dụng. Trong một bối cảnh được định nghĩa bởi sự chính xác, công nghệ và giao tiếp được cân nhắc kỹ lưỡng, ông lại chọn một điều gì đó đơn giản và không lời. Một dấu hiệu được vẽ trong không trung, được hiểu ngay lập tức, không cần phiên dịch. Đó là lời nhắc nhở hoàn hảo rằng một số hình thức giao tiếp ý nghĩa nhất không phụ thuộc vào lời nói, mà phụ thuộc vào những cử chỉ được nhận biết gần như theo bản năng.
Tầm quan trọng của một ngôn ngữ phổ quát
Trên khắp các nền văn hóa, những cử chỉ này tạo thành một loại từ vựng chung. Một bàn tay giơ lên chào hỏi, một cái ôm, một lời chúc phúc được trao một cách lặng lẽ. Chúng thuộc về một hệ thống ngôn ngữ vừa mang đậm tính nhân bản vừa mang tính phổ quát một cách thầm lặng, một hệ thống ngôn ngữ nói trực tiếp đến trái tim mà không cần giải thích.
Đức tin cũng được định hình bởi ngôn ngữ cử chỉ này. Đối với người Công Giáo, Dấu Thánh Giá có lẽ là biểu hiện quen thuộc nhất, một động tác được học từ sớm và lặp đi lặp lại suốt cuộc đời, thường không cần suy nghĩ nhưng không bao giờ vô nghĩa. Khi thực hiện nó, chúng ta không chỉ nhớ lại một niềm tin, mà còn sống trọn vẹn niềm tin đó về mặt thể xác, cho phép cơ thể tham gia vào những gì tâm hồn đã biết. Có một sự an ủi đặc biệt trong sự kiên định của nó, đặc biệt là trong những khoảnh khắc không chắc chắn hoặc chuyển đổi, khi lời nói có thể ngập ngừng nhưng cử chỉ vẫn còn đó.
Những cử chỉ khác cũng mang một sức mạnh thầm lặng tương tự: hai tay chắp lại cầu nguyện, dấu hiệu bình an được trao đổi gần như theo bản năng, cha mẹ ban phước lành trên trán con cái. Không cử chỉ nào trong số này cần giải thích, nhưng mỗi cử chỉ đều chứa đựng một chiều sâu ý nghĩa được cảm nhận hơn là phân tích. Chúng tạo nên sự liên tục, một cảm giác thuộc về được củng cố thông qua sự lặp lại và sự công nhận chung.
Chính trong ngôn ngữ nhân bản rộng lớn này mà cử chỉ của Wiseman tìm thấy vị trí của nó. Và điều đọng lại không phải là quy mô của sứ vụ, dù nó đáng chú ý đến đâu, mà là tính con người thầm lặng của khoảnh khắc đó. Một người cha, trên ngưỡng cửa rời đi, chọn một cử chỉ nói lên tình yêu thương, sự hiện diện và sự kết nối, và bằng cách đó nhắc nhở chúng ta rằng ngay cả trong những hoàn cảnh phi thường nhất, thường thì những dấu hiệu đơn giản nhất lại mang ý nghĩa sâu sắc nhất.
Liên Đoàn CGVN Hoa Kỳ
ĐỨC HỒNG Y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN – CHỨNG NHÂN CỦA HY VỌNG CHO THỜI ĐẠI HÔM NAY
Vong Sinh
16:18 06/04/2026
ĐỨC HỒNG Y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN – CHỨNG NHÂN CỦA HY VỌNG CHO THỜI ĐẠI HÔM NAY
Ngày 25 tháng 3 vừa qua, tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Gioan Latêranô ở Rôma, đã diễn ra một hội nghị quốc tế rất đặc biệt về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuốn Đường Hy Vọng. Đây không chỉ là một sự kiện tưởng niệm, nhưng là một lời nhắc mạnh mẽ gửi đến toàn thể Giáo Hội: giữa một thế giới mỏi mệt, bất an, đầy khủng hoảng và chia rẽ, chứng tá của Đức Hồng y Thuận vẫn đang nói với con người hôm nay bằng một sức mạnh lạ lùng: hy vọng là có thật, và hy vọng Kitô giáo không bao giờ chết.
Chính nơi không gian trang trọng của Laterano – nơi từng chứng kiến những biến cố quan trọng của Giáo Hội – hội nghị ấy như muốn khẳng định rằng cuộc đời của Đức Hồng y Thuận không còn là một câu chuyện riêng của người Công giáo Việt Nam, nhưng đã trở thành một di sản thiêng liêng có tầm vóc hoàn vũ. Từ một xà lim tối tăm, từ những mảnh lịch cũ, từ vài giọt rượu và một giọt nước, từ những năm tháng tù đày và biệt giam, đã bừng lên một ánh sáng không chỉ sưởi ấm những người đồng thời với ngài, mà còn đang tiếp tục soi đường cho biết bao tâm hồn hôm nay.
Điểm nổi bật nhất của hội nghị lần này chính là sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi đến hội nghị, qua chữ ký của Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin. Trong sứ điệp ấy, Đức Thánh Cha không chỉ ca ngợi Đức Hồng y Thuận như một con người anh hùng, nhưng ngài nhấn mạnh đến điều cốt lõi hơn nhiều: Đức Hồng y Thuận là một “chứng nhân Kitô giáo nhiệt thành”, một con người mà niềm hy vọng không phát xuất từ hoàn cảnh thuận lợi, nhưng từ cuộc gặp gỡ sống động với Chúa Kitô và được hình thành trong một đời sống hiến dâng cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Đức Thánh Cha cho thấy hy vọng Kitô giáo không phải là một thứ lạc quan dễ dãi, không phải là thái độ tự trấn an rằng “rồi mọi sự sẽ ổn”, nhưng là một sức mạnh nội tâm, một sự chọn lựa kiên vững, một ánh sáng bền bỉ ngay giữa những hoàn cảnh xem ra tối tăm nhất.
Đó là điều làm cho chứng tá của Đức Hồng y Thuận trở nên chói sáng. Bởi lẽ, ngài không nói về hy vọng từ một nơi an toàn. Ngài nói về hy vọng từ trong 13 năm tù đầy, trong đó có 9 năm biệt giam. Ngài đã nếm sự cô độc đến tận cùng. Ngài bị tước đoạt chức vụ, bị cắt đứt mọi liên hệ, bị đẩy vào tình trạng tưởng như hoàn toàn vô dụng. Vậy mà chính trong bóng tối ấy, ngài lại khám phá ra một chân lý đã nâng đỡ toàn bộ đời sống mình:
“Con hãy chọn Chúa, chứ không chọn công việc của Chúa.”
Câu nói ấy chính là chìa khóa để hiểu trọn hành trình nội tâm của Đức Hồng y Thuận. Trong những tháng năm đầu bị giam cầm, nỗi đau lớn nhất của ngài không chỉ là mất tự do, mà còn là cảm giác mình không còn được làm điều mình yêu mến cho Giáo Hội. Nhưng rồi, nhờ ơn Chúa, ngài nhận ra: nếu cứ bám chặt vào vai trò, chức vụ, thành quả, vào những “việc của Chúa”, thì ngài sẽ gục ngã. Chỉ khi chọn chính Chúa, chọn sự hiện diện của Chúa, chọn yêu Chúa ngay giữa cảnh bất lực, ngài mới thật sự được tự do. Đó không phải là buông xuôi. Đó là một cuộc hoán cải tận gốc, từ chỗ sống nhờ hiệu quả bên ngoài sang chỗ sống bằng sự hiện diện và tình yêu.
Từ sự tự do nội tâm ấy, một điều tưởng như không thể đã xảy ra: trong tù, ngài vẫn tiếp tục sống ơn gọi mục tử của mình. Không có nhà thờ, ngài lấy lòng bàn tay làm bàn thờ. Không có chén thánh, ngài dùng ba giọt rượu và một giọt nước để dâng lễ. Không có sách vở, ngài viết 1.001 tư tưởng trên những mảnh lịch cũ. Không có quyền lực nào trong tay, ngài vẫn cảm hóa được cả những người canh giữ mình bằng sự hiền từ, bằng ngoại ngữ ngài dạy họ, bằng nụ cười không cay đắng, bằng một trái tim đã được Tin Mừng chinh phục. Chính từ nơi tưởng như ngục tối ấy, Đường Hy Vọng đã ra đời – không phải như một cuốn sách lý thuyết, nhưng như một tiếng nói sống động của một tâm hồn đã dám tin vào Chúa giữa tận cùng khốn khó.
Các diễn giả tại hội nghị đã làm nổi bật thêm nhiều khía cạnh rất sâu của di sản ấy. Có vị nhấn mạnh rằng từ kinh nghiệm bị tước đoạt và lưu đày, Đức Hồng y Thuận đã trở thành một con người có khả năng nói về công lý, hòa bình, phẩm giá con người và học thuyết xã hội của Giáo Hội với một thẩm quyền thiêng liêng rất đặc biệt. Có vị lại nhắc đến nụ cười hiền hậu của ngài khi kể lại những năm tháng nhục nhã trong tù – một nụ cười không hề phảng phất cay đắng, không oán hờn, không trả đũa. Có vị khác nhấn mạnh rằng ngài không chỉ chịu đựng đau khổ, nhưng đã biến đau khổ thành của lễ, biến nhà tù thành nhà thờ, biến kẻ canh tù thành người bạn, biến bóng tối thành nơi phát sáng hy vọng.
Và đó cũng là nơi bài học lớn cho người Kitô hữu hôm nay bắt đầu. Ngày nay, phần đông chúng ta không ở trong tù, không bị biệt giam, không mất tự do như Đức Hồng y Thuận. Nhưng chúng ta lại bị giam trong những “nhà tù vô hình” của thời đại: nhà tù của áp lực thành công, nhà tù của sợ thất bại, nhà tù của cơm áo gạo tiền, nhà tù của lo âu, so sánh, đố kỵ, nhà tù của điện thoại, mạng xã hội, và sự quá tải thông tin, nhà tù của sự mệt mỏi kéo dài khiến linh hồn không còn sức để cầu nguyện. Chính trong bối cảnh đó, di sản của Đức Hồng y Thuận trở nên vô cùng thực tế.
Ngài dạy chúng ta bài học đầu tiên: sống giây phút hiện tại. Không lãng phí năng lượng cho những tiếc nuối quá khứ hay hoảng sợ tương lai, nhưng đổ đầy tình yêu vào việc nhỏ bé phải làm hôm nay. Với người mẹ nội trợ, đó có thể là nấu bữa cơm với tâm tình dâng hiến. Với người cha mưu sinh, đó có thể là làm việc lương thiện mà không gian dối. Với người trẻ đi học, đó là học hành chăm chỉ với lương tâm ngay thẳng. Sự thánh thiện không bắt đầu ở những điều phi thường, nhưng trong bổn phận hiện tại được làm bằng tình yêu.
Bài học thứ hai: đừng đồng hóa giá trị của mình với thành công bên ngoài. Người thời nay rất dễ đánh giá bản thân bằng lương bổng, chức vụ, thành tựu, địa vị, sự nhìn nhận của người khác. Nhưng khi những điều ấy sụp đổ, con người cũng sụp theo. Đức Hồng y Thuận nhắc ta rằng: giá trị của người Kitô hữu không nằm ở việc mình làm được bao nhiêu, nhưng ở chỗ mình có thuộc về Chúa hay không. Người đang bị áp lực công việc, bị coi thường, bị thất bại, cần nghe lại điều này hơn bao giờ hết: phẩm giá của bạn không do KPI quyết định, mà do Chúa ban.
Bài học thứ ba: đức ái và tha thứ là sức mạnh thật sự. Trong một xã hội thích phản công, thích trả đũa, thích “ăn miếng trả miếng”, Đức Hồng y Thuận đã chọn dịu dàng với cả cai ngục. Không phải vì ngài yếu, nhưng vì ngài mạnh hơn hận thù. Người Kitô hữu hôm nay, ở nơi làm việc, trong gia đình, trên mạng xã hội, được mời gọi sống điều đó: không để mình trở thành bản sao của sự dữ mình đang chịu. Có thể ta chưa làm được những điều lớn, nhưng ta có thể: bớt một lời cay nghiệt, chặn đứng một cuộc nói xấu, từ chối hùa theo đám đông kết án, cầu nguyện cho người làm mình đau.
Bài học thứ tư: Thánh Thể là nguồn sức mạnh thật. Ba giọt rượu, một giọt nước, một mẩu bánh nhỏ trong tù đã nuôi sống linh hồn Đức Hồng y Thuận suốt những năm dài. Điều ấy nhắc chúng ta rằng người Kitô hữu hôm nay không thể sống đạo thực tế nếu xa nguồn mạch Thánh Thể. Bận rộn không phải là lý do để cắt lìa mình khỏi Chúa. Chính vì bận mà càng phải tìm đến Chúa, dù chỉ bằng một lời nguyện ngắn, một giờ chầu ngắn, một Thánh Lễ giữa tuần khi có thể, hay một khoảnh khắc lặng thinh trước Nhà Tạm.
Và bài học sau cùng: đừng phí đau khổ. Đức Hồng y Thuận không tô hồng đau khổ, nhưng ngài không để đau khổ thành vô nghĩa. Ngài dạy ta biết đón nhận thử thách như cơ hội để thanh luyện, để lớn lên, để kết hiệp hơn với Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Trong đời sống hôm nay, điều đó rất cụ thể: một căn bệnh có thể trở thành lời cầu nguyện cho gia đình, một thất bại có thể dạy ta khiêm nhường, một thời gian tối tăm có thể đưa ta trở về với điều cốt lõi, một cuộc sống chật vật có thể giúp ta thương người nghèo hơn.
Từ tất cả những điều ấy, hội nghị ngày 25 tháng 3 năm 2026 vừa qua tại Laterano không chỉ đơn thuần là một hội thảo trí thức. Đó là một tiếng chuông rất mạnh cho thời đại: thế giới hôm nay không thiếu thông tin, nhưng thiếu hy vọng; không thiếu kỹ thuật, nhưng thiếu tự do nội tâm; không thiếu thành tích, nhưng thiếu những tâm hồn đã được Chúa chạm đến. Và Đức Hồng y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận vẫn đang đứng đó, như một chứng nhân rạng ngời của niềm hy vọng không khuất phục.
Vì thế, chúng ta – những người con của Giáo Hội Việt Nam – được mời gọi không chỉ ngưỡng mộ ngài, nhưng còn cầu nguyện tha thiết cho tiến trình phong thánh của ngài. Theo truyền thống của Giáo Hội, việc phong chân phước và phong thánh cần những dấu lạ được nhìn nhận cách chính thức. Vậy nên, chúng ta hãy khiêm tốn và sốt sắng cầu xin Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Đức Hồng y Thuận, ban những ơn lành và ơn lạ cần thiết, để nếu đẹp ý Chúa, tiến trình tôn phong ngài được sớm hoàn tất.
Xin mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn, mỗi người tín hữu Việt Nam hãy thêm một ý chỉ nhỏ mỗi ngày:
“Lạy Chúa, nếu đẹp ý Chúa, xin dùng lời chuyển cầu của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận mà ban ơn lạ cho chúng con, để Hội Thánh sớm được tôn vinh ngài trên bàn thờ.”
Và xin chính Đức Hồng y Thuận dạy chúng ta biết sống như ngài đã sống: bình an giữa thử thách, hy vọng giữa bóng tối, trung tín giữa bất lực, và yêu thương đến cùng ngay giữa một thế giới còn quá nhiều sợ hãi.
Bởi vì cuối cùng, phép lạ lớn nhất mà ngài để lại không chỉ là một dấu lạ thể lý nào đó, nhưng là một con tim hoàn toàn tự do trong Chúa. Và đó cũng là phép lạ mà người Kitô hữu hôm nay cần nhất.
Vọng Sinh
Nguồn:
-Video Tiếng Việt: Hội Nghị 50 Năm Tác Phẩm Đường Hy Vọng. https://www.youtube.com/live/8Mx3gnY3wuE
-Tiểu Sử ĐHY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận: https://www.youtube.com/watch?v=Mb0L96qAWqg
-https://www.quiet-spaces.co.uk/post/24-october-2025-cardinal-van-thuan-the-road-of-hope
-https://slmedia.org/blog/cardinal-van-thuan-canonization-cause
-https://www.gaudiumpress.ca/cardinal-van-thuan-a-witness-of-hope-that-endures-through-every-trial/
-https://en.nhipcautamgiao.net/cardinal-van-thuan-hope-that-remains-in-all-circumstances
-https://hallam-diocese.com/cardinal-van-thuan-hope-that-remains-in-all-circumstances/
-https://www.humandevelopment.va/en/news/2026/convegno-cardinale-van-thuan-testimone-speranza-2026.html
-https://setonshrine.org/learn-vietnam-hero-cardinal-van-thuans-10-rules-of-life-with-saint-elizabeth-ann-seton/
-https://en.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Thu%E1%BA%ADn
-https://catholicpreaching.com/wp/the-eucharistic-shape-of-cardinal-van-thuans-holy-and-heroic-life-the-anchor-september-16-2022/
-https://www.humandevelopment.va/en/il-dicastero/fondazioni/fondazione-van-thuan.html
-https://ewtnvatican.com/articles/vatican-honors-venerable-cardinal-van-thuan-with-new-foundation-1344
Ngày 25 tháng 3 vừa qua, tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Gioan Latêranô ở Rôma, đã diễn ra một hội nghị quốc tế rất đặc biệt về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuốn Đường Hy Vọng. Đây không chỉ là một sự kiện tưởng niệm, nhưng là một lời nhắc mạnh mẽ gửi đến toàn thể Giáo Hội: giữa một thế giới mỏi mệt, bất an, đầy khủng hoảng và chia rẽ, chứng tá của Đức Hồng y Thuận vẫn đang nói với con người hôm nay bằng một sức mạnh lạ lùng: hy vọng là có thật, và hy vọng Kitô giáo không bao giờ chết.
Chính nơi không gian trang trọng của Laterano – nơi từng chứng kiến những biến cố quan trọng của Giáo Hội – hội nghị ấy như muốn khẳng định rằng cuộc đời của Đức Hồng y Thuận không còn là một câu chuyện riêng của người Công giáo Việt Nam, nhưng đã trở thành một di sản thiêng liêng có tầm vóc hoàn vũ. Từ một xà lim tối tăm, từ những mảnh lịch cũ, từ vài giọt rượu và một giọt nước, từ những năm tháng tù đày và biệt giam, đã bừng lên một ánh sáng không chỉ sưởi ấm những người đồng thời với ngài, mà còn đang tiếp tục soi đường cho biết bao tâm hồn hôm nay.
Điểm nổi bật nhất của hội nghị lần này chính là sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi đến hội nghị, qua chữ ký của Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin. Trong sứ điệp ấy, Đức Thánh Cha không chỉ ca ngợi Đức Hồng y Thuận như một con người anh hùng, nhưng ngài nhấn mạnh đến điều cốt lõi hơn nhiều: Đức Hồng y Thuận là một “chứng nhân Kitô giáo nhiệt thành”, một con người mà niềm hy vọng không phát xuất từ hoàn cảnh thuận lợi, nhưng từ cuộc gặp gỡ sống động với Chúa Kitô và được hình thành trong một đời sống hiến dâng cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Đức Thánh Cha cho thấy hy vọng Kitô giáo không phải là một thứ lạc quan dễ dãi, không phải là thái độ tự trấn an rằng “rồi mọi sự sẽ ổn”, nhưng là một sức mạnh nội tâm, một sự chọn lựa kiên vững, một ánh sáng bền bỉ ngay giữa những hoàn cảnh xem ra tối tăm nhất.
Đó là điều làm cho chứng tá của Đức Hồng y Thuận trở nên chói sáng. Bởi lẽ, ngài không nói về hy vọng từ một nơi an toàn. Ngài nói về hy vọng từ trong 13 năm tù đầy, trong đó có 9 năm biệt giam. Ngài đã nếm sự cô độc đến tận cùng. Ngài bị tước đoạt chức vụ, bị cắt đứt mọi liên hệ, bị đẩy vào tình trạng tưởng như hoàn toàn vô dụng. Vậy mà chính trong bóng tối ấy, ngài lại khám phá ra một chân lý đã nâng đỡ toàn bộ đời sống mình:
“Con hãy chọn Chúa, chứ không chọn công việc của Chúa.”
Câu nói ấy chính là chìa khóa để hiểu trọn hành trình nội tâm của Đức Hồng y Thuận. Trong những tháng năm đầu bị giam cầm, nỗi đau lớn nhất của ngài không chỉ là mất tự do, mà còn là cảm giác mình không còn được làm điều mình yêu mến cho Giáo Hội. Nhưng rồi, nhờ ơn Chúa, ngài nhận ra: nếu cứ bám chặt vào vai trò, chức vụ, thành quả, vào những “việc của Chúa”, thì ngài sẽ gục ngã. Chỉ khi chọn chính Chúa, chọn sự hiện diện của Chúa, chọn yêu Chúa ngay giữa cảnh bất lực, ngài mới thật sự được tự do. Đó không phải là buông xuôi. Đó là một cuộc hoán cải tận gốc, từ chỗ sống nhờ hiệu quả bên ngoài sang chỗ sống bằng sự hiện diện và tình yêu.
Từ sự tự do nội tâm ấy, một điều tưởng như không thể đã xảy ra: trong tù, ngài vẫn tiếp tục sống ơn gọi mục tử của mình. Không có nhà thờ, ngài lấy lòng bàn tay làm bàn thờ. Không có chén thánh, ngài dùng ba giọt rượu và một giọt nước để dâng lễ. Không có sách vở, ngài viết 1.001 tư tưởng trên những mảnh lịch cũ. Không có quyền lực nào trong tay, ngài vẫn cảm hóa được cả những người canh giữ mình bằng sự hiền từ, bằng ngoại ngữ ngài dạy họ, bằng nụ cười không cay đắng, bằng một trái tim đã được Tin Mừng chinh phục. Chính từ nơi tưởng như ngục tối ấy, Đường Hy Vọng đã ra đời – không phải như một cuốn sách lý thuyết, nhưng như một tiếng nói sống động của một tâm hồn đã dám tin vào Chúa giữa tận cùng khốn khó.
Các diễn giả tại hội nghị đã làm nổi bật thêm nhiều khía cạnh rất sâu của di sản ấy. Có vị nhấn mạnh rằng từ kinh nghiệm bị tước đoạt và lưu đày, Đức Hồng y Thuận đã trở thành một con người có khả năng nói về công lý, hòa bình, phẩm giá con người và học thuyết xã hội của Giáo Hội với một thẩm quyền thiêng liêng rất đặc biệt. Có vị lại nhắc đến nụ cười hiền hậu của ngài khi kể lại những năm tháng nhục nhã trong tù – một nụ cười không hề phảng phất cay đắng, không oán hờn, không trả đũa. Có vị khác nhấn mạnh rằng ngài không chỉ chịu đựng đau khổ, nhưng đã biến đau khổ thành của lễ, biến nhà tù thành nhà thờ, biến kẻ canh tù thành người bạn, biến bóng tối thành nơi phát sáng hy vọng.
Và đó cũng là nơi bài học lớn cho người Kitô hữu hôm nay bắt đầu. Ngày nay, phần đông chúng ta không ở trong tù, không bị biệt giam, không mất tự do như Đức Hồng y Thuận. Nhưng chúng ta lại bị giam trong những “nhà tù vô hình” của thời đại: nhà tù của áp lực thành công, nhà tù của sợ thất bại, nhà tù của cơm áo gạo tiền, nhà tù của lo âu, so sánh, đố kỵ, nhà tù của điện thoại, mạng xã hội, và sự quá tải thông tin, nhà tù của sự mệt mỏi kéo dài khiến linh hồn không còn sức để cầu nguyện. Chính trong bối cảnh đó, di sản của Đức Hồng y Thuận trở nên vô cùng thực tế.
Ngài dạy chúng ta bài học đầu tiên: sống giây phút hiện tại. Không lãng phí năng lượng cho những tiếc nuối quá khứ hay hoảng sợ tương lai, nhưng đổ đầy tình yêu vào việc nhỏ bé phải làm hôm nay. Với người mẹ nội trợ, đó có thể là nấu bữa cơm với tâm tình dâng hiến. Với người cha mưu sinh, đó có thể là làm việc lương thiện mà không gian dối. Với người trẻ đi học, đó là học hành chăm chỉ với lương tâm ngay thẳng. Sự thánh thiện không bắt đầu ở những điều phi thường, nhưng trong bổn phận hiện tại được làm bằng tình yêu.
Bài học thứ hai: đừng đồng hóa giá trị của mình với thành công bên ngoài. Người thời nay rất dễ đánh giá bản thân bằng lương bổng, chức vụ, thành tựu, địa vị, sự nhìn nhận của người khác. Nhưng khi những điều ấy sụp đổ, con người cũng sụp theo. Đức Hồng y Thuận nhắc ta rằng: giá trị của người Kitô hữu không nằm ở việc mình làm được bao nhiêu, nhưng ở chỗ mình có thuộc về Chúa hay không. Người đang bị áp lực công việc, bị coi thường, bị thất bại, cần nghe lại điều này hơn bao giờ hết: phẩm giá của bạn không do KPI quyết định, mà do Chúa ban.
Bài học thứ ba: đức ái và tha thứ là sức mạnh thật sự. Trong một xã hội thích phản công, thích trả đũa, thích “ăn miếng trả miếng”, Đức Hồng y Thuận đã chọn dịu dàng với cả cai ngục. Không phải vì ngài yếu, nhưng vì ngài mạnh hơn hận thù. Người Kitô hữu hôm nay, ở nơi làm việc, trong gia đình, trên mạng xã hội, được mời gọi sống điều đó: không để mình trở thành bản sao của sự dữ mình đang chịu. Có thể ta chưa làm được những điều lớn, nhưng ta có thể: bớt một lời cay nghiệt, chặn đứng một cuộc nói xấu, từ chối hùa theo đám đông kết án, cầu nguyện cho người làm mình đau.
Bài học thứ tư: Thánh Thể là nguồn sức mạnh thật. Ba giọt rượu, một giọt nước, một mẩu bánh nhỏ trong tù đã nuôi sống linh hồn Đức Hồng y Thuận suốt những năm dài. Điều ấy nhắc chúng ta rằng người Kitô hữu hôm nay không thể sống đạo thực tế nếu xa nguồn mạch Thánh Thể. Bận rộn không phải là lý do để cắt lìa mình khỏi Chúa. Chính vì bận mà càng phải tìm đến Chúa, dù chỉ bằng một lời nguyện ngắn, một giờ chầu ngắn, một Thánh Lễ giữa tuần khi có thể, hay một khoảnh khắc lặng thinh trước Nhà Tạm.
Và bài học sau cùng: đừng phí đau khổ. Đức Hồng y Thuận không tô hồng đau khổ, nhưng ngài không để đau khổ thành vô nghĩa. Ngài dạy ta biết đón nhận thử thách như cơ hội để thanh luyện, để lớn lên, để kết hiệp hơn với Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Trong đời sống hôm nay, điều đó rất cụ thể: một căn bệnh có thể trở thành lời cầu nguyện cho gia đình, một thất bại có thể dạy ta khiêm nhường, một thời gian tối tăm có thể đưa ta trở về với điều cốt lõi, một cuộc sống chật vật có thể giúp ta thương người nghèo hơn.
Từ tất cả những điều ấy, hội nghị ngày 25 tháng 3 năm 2026 vừa qua tại Laterano không chỉ đơn thuần là một hội thảo trí thức. Đó là một tiếng chuông rất mạnh cho thời đại: thế giới hôm nay không thiếu thông tin, nhưng thiếu hy vọng; không thiếu kỹ thuật, nhưng thiếu tự do nội tâm; không thiếu thành tích, nhưng thiếu những tâm hồn đã được Chúa chạm đến. Và Đức Hồng y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận vẫn đang đứng đó, như một chứng nhân rạng ngời của niềm hy vọng không khuất phục.
Vì thế, chúng ta – những người con của Giáo Hội Việt Nam – được mời gọi không chỉ ngưỡng mộ ngài, nhưng còn cầu nguyện tha thiết cho tiến trình phong thánh của ngài. Theo truyền thống của Giáo Hội, việc phong chân phước và phong thánh cần những dấu lạ được nhìn nhận cách chính thức. Vậy nên, chúng ta hãy khiêm tốn và sốt sắng cầu xin Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Đức Hồng y Thuận, ban những ơn lành và ơn lạ cần thiết, để nếu đẹp ý Chúa, tiến trình tôn phong ngài được sớm hoàn tất.
Xin mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn, mỗi người tín hữu Việt Nam hãy thêm một ý chỉ nhỏ mỗi ngày:
“Lạy Chúa, nếu đẹp ý Chúa, xin dùng lời chuyển cầu của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận mà ban ơn lạ cho chúng con, để Hội Thánh sớm được tôn vinh ngài trên bàn thờ.”
Và xin chính Đức Hồng y Thuận dạy chúng ta biết sống như ngài đã sống: bình an giữa thử thách, hy vọng giữa bóng tối, trung tín giữa bất lực, và yêu thương đến cùng ngay giữa một thế giới còn quá nhiều sợ hãi.
Bởi vì cuối cùng, phép lạ lớn nhất mà ngài để lại không chỉ là một dấu lạ thể lý nào đó, nhưng là một con tim hoàn toàn tự do trong Chúa. Và đó cũng là phép lạ mà người Kitô hữu hôm nay cần nhất.
Vọng Sinh
Nguồn:
-Video Tiếng Việt: Hội Nghị 50 Năm Tác Phẩm Đường Hy Vọng. https://www.youtube.com/live/8Mx3gnY3wuE
-Tiểu Sử ĐHY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận: https://www.youtube.com/watch?v=Mb0L96qAWqg
-https://www.quiet-spaces.co.uk/post/24-october-2025-cardinal-van-thuan-the-road-of-hope
-https://slmedia.org/blog/cardinal-van-thuan-canonization-cause
-https://www.gaudiumpress.ca/cardinal-van-thuan-a-witness-of-hope-that-endures-through-every-trial/
-https://en.nhipcautamgiao.net/cardinal-van-thuan-hope-that-remains-in-all-circumstances
-https://hallam-diocese.com/cardinal-van-thuan-hope-that-remains-in-all-circumstances/
-https://www.humandevelopment.va/en/news/2026/convegno-cardinale-van-thuan-testimone-speranza-2026.html
-https://setonshrine.org/learn-vietnam-hero-cardinal-van-thuans-10-rules-of-life-with-saint-elizabeth-ann-seton/
-https://en.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Thu%E1%BA%ADn
-https://catholicpreaching.com/wp/the-eucharistic-shape-of-cardinal-van-thuans-holy-and-heroic-life-the-anchor-september-16-2022/
-https://www.humandevelopment.va/en/il-dicastero/fondazioni/fondazione-van-thuan.html
-https://ewtnvatican.com/articles/vatican-honors-venerable-cardinal-van-thuan-with-new-foundation-1344
VietCatholic TV
CIA lừa được Iran, giải cứu thành công phi hành đoàn F-15E. Mỹ ra tối hậu thư mới nhất cho Iran
VietCatholic Media
03:26 06/04/2026
1. Tổng thống Trump nói với Fox News rằng một thỏa thuận với Iran có thể đạt được vào thứ Hai.
Tổng thống nói với Fox News trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại rằng ông nghĩ mình có thể đạt được thỏa thuận với Iran vào thứ Hai, và cho biết các cuộc đàm phán đang diễn ra ngay bây giờ.
Trey Yingst, phóng viên thường trú về nước của Fox News, cho biết ông đã nói chuyện với tổng thống, người đã nói với ông rằng nếu Iran không nhanh chóng đạt được thỏa thuận, ông ấy “đang cân nhắc việc phá hủy mọi thứ và chiếm lấy nguồn dầu mỏ”.
Cuộc phỏng vấn diễn ra sau khi tổng thống đăng tải trên Truth Social vào sáng Chúa Nhật rằng thứ Ba sẽ là “Ngày Nhà máy điện và Ngày Cầu, tất cả gộp lại thành một”, đồng thời cảnh báo rằng chúng có thể trở thành mục tiêu tấn công trừ khi Iran mở lại eo biển Hormuz.
Iran và Mỹ đã liên lạc gián tiếp thông qua các trung gian hòa giải trong hai tuần qua, cả hai bên đều cho biết.
Tổng thống Trump cũng nói với Yingst rằng Mỹ đã gửi súng cho những người biểu tình Iran trong một loạt các cuộc biểu tình trên toàn quốc bị lực lượng an ninh Iran đàn áp hồi đầu năm nay. Tổng thống nói rằng số súng đó được gửi thông qua người Kurd, và ông tin rằng họ đang cất giữ chúng, Yingst cho biết.
Tổng thống Trump tuyên bố sẽ tấn công các nhà máy điện và cầu của Iran vào thứ Ba.
Tổng thống Trump tuyên bố rằng thứ Ba “sẽ là Ngày Nhà máy Điện và Ngày Cầu, tất cả gộp lại thành một, ở Iran” - khi ông đe dọa sẽ tấn công các cơ sở điện và cầu của Iran.
“Sẽ không có gì sánh bằng đâu!!!” tổng thống nói. “Mở cửa eo biển chết tiệt đó ra đi, lũ khốn điên khùng, nếu không các ngươi sẽ sống trong địa ngục - CỨ CHỜ XEM!”
Tổng thống Trump đã liên tục gây áp lực lên Iran để nước này cho phép eo biển Hormuz mở cửa trở lại. Tuyến đường thủy này thường vận chuyển một phần năm lượng dầu mỏ của thế giới, và việc giao thông đường thủy gần như bị đình trệ đã khiến giá dầu tăng vọt.
[CBSNews: Trump tells Fox News a deal with Iran could be possible by Monday]
2. Một thành viên phi hành đoàn Mỹ mất tích trên chiếc máy bay chiến đấu bị bắn rơi đã được cứu sống ở Iran.
Một thành viên phi hành đoàn người Mỹ mất tích khi máy bay chiến đấu F-15E bị bắn rơi ở một khu vực hẻo lánh của Iran đã được lực lượng Mỹ giải cứu vào sáng sớm Chúa Nhật theo giờ địa phương, nhiều quan chức Mỹ nói với CBS News. Diễn biến này xảy ra sau khi phi công của chiếc máy bay đã được giải cứu vào thứ Sáu.
Tình trạng sức khỏe của thành viên phi hành đoàn vẫn chưa rõ. Các quan chức Mỹ đã nói với CBS News rằng chiếc máy bay này đang chở hai người khi bị lực lượng Iran bắn hạ hôm thứ Sáu.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran đã nhận trách nhiệm về vụ tấn công, tuyên bố chiếc máy bay phản lực đã bị bắn hạ ở tây nam Iran vào sáng thứ Sáu. Hai chuyên gia vũ khí nói với CBS News rằng những bức ảnh về mảnh vỡ mà truyền thông Iran cho là xác máy bay chiến đấu Mỹ bị bắn rơi có vẻ phù hợp với máy bay F-15 của Mỹ.
Theo các quan chức Mỹ trước đó, phi công của chiếc F-15E đã nhảy dù an toàn và được hai trực thăng quân sự cứu sống, nhưng thành viên phi hành đoàn thứ hai, một sĩ quan hệ thống vũ khí, vẫn mất tích.
[Newsweek: Missing U.S. crew member from downed fighter jet rescued in Iran, sources says]
3. Một quan chức Tòa Bạch Ốc cho biết, Tổng thống Trump đã nhận được “những thông tin cập nhật liên tục” trong suốt chiến dịch cấp cứu thành viên phi hành đoàn Mỹ mất tích.
Tổng thống Trump đã nhận được “những cập nhật liên tục” từ Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth trong suốt hai ngày tìm kiếm thành viên phi hành đoàn Mỹ mất tích trên chiếc máy bay chiến đấu bị bắn rơi ở Iran, một quan chức Tòa Bạch Ốc nói với CBS News.
Một quan chức Tòa Bạch Ốc cho biết Tổng thống Trump “đã làm việc tại Phòng Bầu dục cả ngày và liên tục nhận được thông tin cập nhật từ Bộ trưởng Chiến tranh.”
Tổng thống đã thông báo vào sáng Chúa Nhật rằng lực lượng Mỹ đã “thực hiện thành công một trong những chiến dịch tìm kiếm và cấp cứu táo bạo nhất” để giải cứu thành viên phi hành đoàn mất tích, người mà ông mô tả là một “Đại tá được kính trọng”.
[CBSNews: Trump received “constant updates” during rescue mission for missing U.S. crew member, White House official says]
4. Tổng thống Trump xác nhận thành viên phi hành đoàn Mỹ mất tích đã được cứu sống ở Iran.
Tổng thống Trump đã xác nhận vào sáng sớm Chúa Nhật theo giờ Miền Đông Hoa Kỳ rằng thành viên phi hành đoàn Mỹ mất tích trên chiếc máy bay chiến đấu F-15E bị bắn rơi đã được lực lượng Mỹ giải cứu từ Iran. Phi công của chiếc máy bay đã được giải cứu vào thứ Sáu.
“CHÚNG TA ĐÃ TÌM THẤY ANH TA!” Tổng thống Trump viết hôm Chúa Nhật trên trang Truth Social. “Thưa các đồng bào Mỹ, trong vài giờ qua, quân đội Hoa Kỳ đã thực hiện một trong những chiến dịch tìm kiếm và cấp cứu táo bạo nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, để tìm kiếm một trong những sĩ quan phi hành đoàn xuất sắc của chúng ta, người cũng là một Đại tá được kính trọng, và tôi rất vui mừng thông báo với các bạn rằng hiện anh ta đã AN TOÀN và KHỎE MẠNH!”
Tổng thống viết rằng viên Đại Tá đó “bị thương, nhưng anh ta sẽ ổn thôi.”
Về chiến dịch giải cứu, tổng thống cho biết: “Theo chỉ thị của tôi, quân đội Mỹ đã điều hàng chục máy bay, được trang bị những vũ khí nguy hiểm nhất thế giới, để giải cứu ông ấy.”
[Newsweek: Trump confirms missing U.S. crew member rescued from Iran]
5. NATO tròn 77 tuổi trong bối cảnh Tổng thống Trump đặt ra nghi ngờ về cam kết của Mỹ.
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, gọi tắt là NATO đã kỷ niệm 77 năm thành lập vào thứ Bảy, trong bối cảnh những câu hỏi mới lại nổi lên về cam kết của Hoa Kỳ đối với liên minh này, sau một loạt chỉ trích mới từ Tổng thống Trump, điều đã gây bất ổn cho các đồng minh trong thời điểm xung đột toàn cầu ngày càng leo thang.
NATO được thành lập năm 1949 sau Thế chiến II nhằm cung cấp khả năng phòng thủ tập thể cho các thành viên, ràng buộc Hoa Kỳ với an ninh của Âu Châu thông qua một hệ thống được thiết kế để răn đe hành động gây hấn và ngăn chặn một cuộc chiến tranh lục địa khác. Cốt lõi của liên minh là Điều 5, điều khoản phòng thủ chung quy định rằng một cuộc tấn công vào một thành viên được coi là một cuộc tấn công vào tất cả các thành viên.
Tổng thống Trump gây áp lực lên các đồng minh về cuộc chiến tranh với Iran và eo biển Hormuz.
Lễ kỷ niệm mới nhất của NATO diễn ra trong bối cảnh những nghi ngờ công khai bất thường từ thành viên quyền lực nhất của tổ chức này. Trong những tuần gần đây, Tổng thống Trump đã chỉ trích các đồng minh NATO vì từ chối hỗ trợ các nỗ lực do Mỹ dẫn đầu nhằm mở lại eo biển Hormuz, một tuyến đường vận chuyển toàn cầu quan trọng bị gián đoạn trong cuộc chiến tranh Mỹ-Israel với Iran.
Tháng trước, Tổng thống Trump đã chỉ trích các đồng minh NATO trên Truth Social, cáo buộc họ hưởng lợi từ sức mạnh quân sự của Mỹ trong khi từ chối giúp bảo đảm an ninh các tuyến đường vận chuyển bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. “Không có Mỹ, NATO chỉ là con hổ giấy!”, ông viết, kết luận bài đăng bằng cách gọi các đồng minh là “kẻ hèn nhát” và cảnh báo, “chúng ta sẽ ghi nhớ!”
Sau khi Tây Ban Nha, một thành viên của liên minh, đóng cửa không phận đối với máy bay Mỹ tham gia chiến tranh hồi đầu tuần này, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio nhận định rằng liên minh vẫn có giá trị đối với Washington vì nó cho phép Mỹ triển khai quân đội và máy bay ở những khu vực trên thế giới mà nếu không có liên minh, Mỹ sẽ không có căn cứ.
“Nhưng nếu NATO chỉ xoay quanh việc chúng ta bảo vệ Âu Châu nếu họ bị tấn công, nhưng lại từ chối quyền đặt căn cứ của chúng ta khi chúng ta cần, thì đó không phải là một thỏa thuận tốt,” Rubio nói với Al Jazeera hôm thứ Hai. “Thật khó để tiếp tục tham gia và nói rằng điều này có lợi cho Hoa Kỳ. Vì vậy, tất cả điều đó sẽ phải được xem xét lại.”
[Newsweek: NATO Turns 77 as Trump Raises Doubts About US Commitment]
6. Tổng thống Trump cho biết Mỹ đã cứu sống một thành viên phi hành đoàn bị thương nặng từ chiếc máy bay bị bắn rơi ở Iran.
Tổng thống Trump cho biết vào sáng sớm Chúa Nhật rằng lực lượng Mỹ đã giải cứu một thành viên phi hành đoàn Mỹ mất tích kể từ khi chiếc máy bay chiến đấu F-15 chở ông bị bắn rơi ở Iran hôm thứ Sáu.
“Người chiến binh dũng cảm này đang ở phía sau chiến tuyến của địch trong những ngọn núi hiểm trở của Iran, bị kẻ thù truy đuổi ngày càng gắt gao hơn”, Tổng thống Trump viết trong một bài đăng trên mạng xã hội ngay sau nửa đêm theo giờ Washington.
Tổng thống Trump cho biết phi công này bị thương nhưng “sẽ ổn thôi”, đồng thời nói thêm rằng chiến dịch cấp cứu có sự tham gia của “hàng chục máy bay” và Mỹ đã theo dõi vị trí của anh ta “24 giờ một ngày, và tích cực lên kế hoạch cho việc cấp cứu”. Ông cho biết không có người Mỹ nào thiệt mạng hoặc bị thương trong chiến dịch cấp cứu.
Trong một bài đăng sau đó, Tổng thống Trump cho biết người sĩ quan không quân này đã “bị thương nặng”.
Một chiến dịch tìm kiếm và cấp cứu khẩn cấp của Mỹ đã diễn ra sau vụ rơi máy bay hôm thứ Sáu, trong khi Iran hứa sẽ treo thưởng cho bất kỳ ai giao nộp “phi công địch”. Thành viên phi hành đoàn này là người phụ trách vũ khí trên chiếc F-15E bị Iran bắn hạ. Viên phi công lái chiếc máy bay F-15E đã được cứu sống trước đó.
Tổng thống Trump cho biết Tehran là “bị đánh bại và hoàn toàn suy yếu” trong cuộc chiến, hiện đã bước sang tuần thứ sáu, nhưng việc hai máy bay chiến đấu của Mỹ bị bắn rơi hôm thứ Sáu đã làm tăng thêm căng thẳng. Chưa rõ liệu chiếc máy bay Mỹ thứ hai bị rơi hay bị bắn hạ, hoặc liệu Iran có liên quan hay không. Truyền thông nhà nước Iran cho biết một máy bay tấn công A-10 của Mỹ đã bị rơi ở Vịnh Ba Tư sau khi bị lực lượng phòng thủ Iran tấn công.
Việc giải cứu phi công mất tích diễn ra trong bối cảnh Iran và Mỹ liên tục đe dọa sẽ giáng “địa ngục” khi các cuộc tấn công tiếp tục diễn ra khắp khu vực. Tổng thống Trump nhắc lại lời đe dọa sẽ tăng cường các cuộc tấn công nếu Iran không đạt được thỏa thuận mở lại eo biển Hormuz trước hạn chót vào thứ Hai, một tối hậu thư mà Tehran cho đến nay vẫn bác bỏ.
“Thứ Ba sẽ là Ngày Nhà máy Điện và Ngày Cầu, tất cả gộp lại thành một, ở Iran,” Tổng thống Trump nói trên mạng xã hội Truth Social hôm Chúa Nhật, khi ông một lần nữa đe dọa sẽ tấn công cơ sở hạ tầng dân sự của Iran nếu nước này không mở lại eo biển Hormuz. Những lời đe dọa này làm dấy lên lo ngại rằng Washington có thể phạm phải những hành động bị coi là tội ác chiến tranh, trong khi luật pháp quốc tế nói chung cấm các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng dân sự như nhà máy điện và nhà máy khử muối.
Tuần trước, tổng thống tuyên bố lực lượng quân sự, cơ sở công nghiệp quốc phòng và giới lãnh đạo chính trị của Tehran đều đã “bị phá hủy hoàn toàn” sau một tháng tấn công dữ dội bằng máy bay và đạn dược của Mỹ. Nhưng Tổng thống Trump cũng khẳng định lực lượng Mỹ sẽ tiếp tục oanh tạc trong hai hoặc ba tuần nữa, hứa sẽ “đánh mạnh vào họ” mà không tiết lộ những mục tiêu hoặc mối đe dọa quan trọng nào còn lại.
Cuộc xung đột, bắt đầu bằng các cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào Iran ngày 28 tháng 2, đã khiến hàng ngàn người thiệt mạng, làm rung chuyển thị trường toàn cầu, cắt đứt các tuyến vận chuyển quan trọng và khiến giá nhiên liệu tăng vọt.
Tổng thống Trump đã gọi việc giải cứu một thành viên phi hành đoàn máy bay chiến đấu của Mỹ bên trong Iran là một “phép lạ Phục Sinh” trong một tin nhắn gửi cho NBC News hôm Chúa Nhật.
“Kẻ thù rất đông và hung bạo. Những người giải cứu thì xuất sắc, mạnh mẽ, quyết đoán và bình tĩnh đến mức tối đa. Người Iran tưởng rằng họ đã tóm được anh ta, nhưng thực tế thì không hề như vậy”, ông viết, theo Kristen Welker của NBC News.
Tổng thống Trump cũng lưu ý rằng phi công của chiếc máy bay chiến đấu đã được giải cứu vào thứ Sáu, nhưng Mỹ “không thể nói về” nhiệm vụ đó “vì điều đó sẽ làm nổi bật việc có một nhiệm vụ thứ hai”.
Tổng thống Trump cho biết ông sẽ tổ chức một cuộc họp báo với các quan chức quân đội tại Phòng Bầu dục vào lúc 1 giờ chiều thứ Hai, đánh dấu lần xuất hiện trước công chúng đầu tiên của ông kể từ khi hai binh sĩ Mỹ, những người có máy bay chiến đấu bị Iran bắn hạ, được lực lượng Mỹ giải cứu.
[CBSNews: US rescues ‘seriously wounded’ airman from jet downed in Iran, Trump says]
7. Quan chức Iran: Eo biển Hormuz sẽ chỉ mở cửa trở lại nếu Iran được bồi thường thông qua phí cầu đường.
Một quan chức chính phủ Iran cảnh báo hôm Chúa Nhật rằng eo biển Hormuz “sẽ chỉ mở cửa trở lại khi, theo một chế độ pháp lý mới, những thiệt hại từ cuộc chiến tranh do Iran gây ra được bồi thường đầy đủ từ một phần doanh thu phí quá cảnh.”
Lời đe dọa từ Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi dường như là phản ứng chính thức của Iran trước lời đe dọa của Tổng thống Trump về việc ném bom các nhà máy điện của Iran nếu nước này không cho phép eo biển mở cửa trở lại trước thứ Ba.
Nguy cơ bị Iran tấn công đã khiến phần lớn các tàu thương mại tránh đi qua eo biển Hormuz, làm gián đoạn xuất khẩu dầu mỏ từ vùng Vịnh Ba Tư.
Trong những tuần gần đây, Iran đã cho phép một số tàu không thuộc Iran đi qua eo biển với sự cho phép của mình, và các nhà phân tích cho rằng nước này đã thiết lập một “trạm thu phí” để tính phí lên đến hàng triệu đô la đối với một số chủ tàu - một hệ thống mà chính phủ Iran đã ra tín hiệu rằng họ có thể sẽ cố gắng duy trì vĩnh viễn.
Eo biển Hormuz nằm trong lãnh hải của Iran và Oman, nhưng trong lịch sử, nó được coi là tuyến đường thủy quốc tế mà tất cả các tàu thuyền đều có thể đi qua.
Các quan chức chính quyền Tổng thống Trump đã bác bỏ ý tưởng cho phép Iran thu phí đối với các tàu thuyền đi qua eo biển. Ngoại trưởng Marco Rubio nói với ABC News tuần trước rằng hệ thống thu phí “sẽ không được phép xảy ra”, và “tổng thống có một số lựa chọn, nếu ông ấy muốn, để ngăn chặn điều đó xảy ra”.
[CBSNews: Iranian official: Strait of Hormuz will only reopen if Iran is compensated through tolls]
8. Một quan chức Iraq cảm ơn Iran vì đã cho phép tàu chở dầu đi qua eo biển Hormuz.
Iraq cho biết Iran đã cho phép các tàu chở dầu của Iraq đi qua eo biển Hormuz. Phát ngôn nhân chính phủ Iraq, Basim Al-Awadi, cho biết như trên hôm Chúa Nhật, 05 Tháng Tư.
Phát ngôn nhân Iraq cho biết trong một tuyên bố rằng Ngoại trưởng Fuad Hussein đã gặp đại sứ Iran tại Baghdad và cảm ơn nhà ngoại giao Iran vì đã cho phép dầu của Iraq đi qua tuyến đường thủy quan trọng này. Theo tuyên bố, ông Hussein cũng nói rằng Iraq phản đối chiến tranh.
Theo các nguồn tin, Iran đã tuyên bố một ngày trước đó rằng các tàu của Iraq có thể đi qua eo biển này.
Hiện chưa rõ có bao nhiêu tàu sẽ đi qua. Theo dữ liệu theo dõi tàu công khai, một tàu chở dầu thô mang cờ Panama có tên Ocean Thunder đã được nhìn thấy đi qua eo biển Hormuz hôm Chúa Nhật sau khi rời một cảng dầu của Iraq.
Iran đã phong tỏa phần lớn giao thông hàng hải qua eo biển, đặc biệt là đối với các tàu có liên hệ với các đồng minh của Mỹ, mặc dù nước này vẫn cho phép một số tàu đi qua. Theo dữ liệu do Bloomberg tổng hợp, lượng tàu đi qua eo biển đã tăng nhẹ trong tuần qua, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức trước chiến tranh.
[CBSNews: Iraqi official thanks Iran for letting oil tanker through Strait of Hormuz]
9. Các đồng minh khẳng định cuộc chiến với Iran không phải là nhiệm vụ của NATO.
Trong dịp kỷ niệm 77 năm thành lập NATO, một số quốc gia thành viên NATO đã lặp lại quan điểm từ chối điều động lực lượng hải quân đến khu vực này, cho rằng cuộc xung đột không phải là nhiệm vụ của NATO và cảnh báo rằng việc can thiệp sâu hơn có nguy cơ làm leo thang xung đột.
“Đây không phải là cuộc chiến của chúng tôi, chúng tôi không phải là người khởi xướng nó,” Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius tuyên bố.
Tổng thống Trump đã đáp trả bằng cách cáo buộc các đồng minh không hoàn thành nghĩa vụ của mình và đặt câu hỏi liệu Mỹ có nên tiếp tục gánh vác gánh nặng an ninh của liên minh hay không.
Tháng trước, ông cảnh báo rằng nếu các nước đồng minh bác bỏ yêu cầu của ông về việc giúp mở lại eo biển Hormuz, “điều đó sẽ rất tồi tệ cho tương lai của NATO”.
Những phát ngôn này lặp lại một mô típ đã có từ lâu. Tổng thống Trump đã nhiều lần chỉ trích NATO về chi tiêu quốc phòng, chia sẻ gánh nặng và điều mà ông mô tả là sự đối xử không công bằng với người đóng thuế Mỹ, nêu lên những lo ngại tương tự trong nhiệm kỳ đầu tiên và một lần nữa trong nhiệm kỳ trở lại của mình.
Mặc dù Tổng thống Trump chưa tuyên bố chính thức rút khỏi NATO, nhưng những phát ngôn của ông đã khiến các nhà lãnh đạo Âu Châu lo ngại, họ cảnh báo rằng chỉ riêng sự không chắc chắn cũng có thể làm suy yếu khả năng răn đe. Điều khoản 5 chỉ được viện dẫn một lần, sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 vào Mỹ, nhưng sức mạnh của nó nằm ở tính xác thực chứ không phải tần suất.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron là một trong những người chỉ trích mạnh mẽ nhất những phát ngôn của Tổng thống Trump, cảnh báo rằng việc liên tục công khai nghi ngờ về cam kết của Mỹ có nguy cơ làm suy yếu liên minh.
“Nếu mỗi ngày bạn đều tạo ra sự nghi ngờ về cam kết của mình, bạn sẽ làm cho nó trở nên vô nghĩa”, Macron nói trong tuần này.
Đường lối của Tổng thống Trump đối với NATO cũng bị ảnh hưởng bởi những bình luận lặp đi lặp lại của ông về Greenland, một vùng lãnh thổ bán tự trị của Đan Mạch, một đồng minh của NATO. Kể từ khi trở lại nắm quyền, Tổng thống Trump lập luận rằng Mỹ phải kiểm soát hòn đảo này vì lý do an ninh quốc gia, đôi khi không loại trừ khả năng sử dụng vũ lực hoặc áp lực kinh tế. Những phát ngôn đó đã gây ra phản ứng dữ dội từ các đồng minh Âu Châu, các cuộc biểu tình rầm rộ ở Đan Mạch và Greenland, và những cảnh báo từ các nhà lãnh đạo NATO rằng các mối đe dọa chống lại một quốc gia thành viên làm suy yếu nguyên tắc cốt lõi về phòng thủ tập thể của liên minh. Mặc dù sau đó Tổng thống Trump nói rằng ông đã đạt được một “khuôn khổ” cho các cuộc đàm phán với các nhà lãnh đạo NATO về an ninh Bắc Cực, nhưng sự việc này đã làm gia tăng lo ngại tại các thủ đô Âu Châu rằng các bảo đảm an ninh của Mỹ có thể bị coi là có điều kiện.
Các quan chức Âu Châu nhấn mạnh rằng các đối thủ đang theo dõi sát sao những tín hiệu về sự đoàn kết hay chia rẽ trong NATO và có thể trở nên liều lĩnh hơn khi thấy những dấu hiệu cho thấy các bảo đảm của liên minh là có điều kiện.
Những lo ngại đó càng trở nên trầm trọng hơn do cuộc chiến với Iran, vốn đã bắt đầu lan đến biên giới của NATO. Hệ thống phòng không và phòng thủ hỏa tiễn của liên minh đã đánh chặn các vật thể bay gần hoặc bên trong không phận NATO trong những tuần gần đây, đặc biệt là liên quan đến Thổ Nhĩ Kỳ, cho thấy một cuộc xung đột khu vực có thể nhanh chóng lan sang lãnh thổ của liên minh như thế nào.
[Newsweek: Allies Say Iran War Is Not a NATO Mission]
10. Bộ Tư lệnh Trung tâm, gọi tắt là CENTCOM cho biết các cuộc tấn công của Mỹ vào Iran vẫn tiếp diễn sau chiến dịch giải cứu.
Bộ Tư lệnh Trung ương Mỹ cho biết, Hoa Kỳ tiếp tục tấn công Iran sau khi giải cứu hai binh sĩ Mỹ có máy bay chiến đấu F-15E bị bắn rơi trong cuộc giao tranh hôm thứ Sáu.
“Các binh sĩ đã được giải cứu an toàn trong các nhiệm vụ tìm kiếm và cấp cứu riêng biệt,” Bộ Tư lệnh Trung tâm, gọi tắt là CENTCOM cho biết trong một tuyên bố hôm Chúa Nhật. “Các cuộc tấn công của Mỹ vào Iran vẫn tiếp tục khi lực lượng thuộc Bộ Tư lệnh Trung tâm của Mỹ đang phá vỡ khả năng của chế độ Iran trong việc thể hiện quyền lực ra ngoài biên giới của mình.”
[CBSNews: U.S. strikes in Iran continue after rescue mission, CENTCOM says]
11. Oman cho biết họ đã thảo luận về việc “bảo đảm luồng giao thông thông suốt” qua eo biển Hormuz với Iran.
Bộ Ngoại giao Oman cho biết nước này đã có cuộc gặp với Iran hôm thứ Bảy để thảo luận về “các phương án khả thi nhằm bảo đảm luồng giao thông thông suốt qua eo biển Hormuz”.
Eo biển Hormuz — một điểm nghẽn quan trọng trong việc xuất khẩu dầu mỏ nằm giữa Iran và Oman — đã bị đóng cửa đối với hầu hết các hoạt động vận tải biển kể từ khi cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran bắt đầu, chỉ có một số ít tàu thuyền được phép đi qua với sự cho phép của Iran.
Iran đã ám chỉ rằng họ có thể sẽ tiếp tục duy trì quyền kiểm soát eo biển này sau khi chiến tranh kết thúc. Một số nhà phân tích cho rằng Iran đã bắt đầu sử dụng một hòn đảo trong eo biển như một “trạm thu phí”, thu những khoản phí rất cao đối với các tàu muốn đi qua tuyến đường thủy này.
Về mặt kỹ thuật, eo biển Hormuz nằm trong lãnh hải của Iran và Oman, nhưng luật pháp quốc tế từ trước đến nay vẫn coi đây là tuyến đường thủy quốc tế mà tàu thuyền có thể đi lại tự do.
[CBSNews: Oman says it discussed “ensuring the smooth flow of transit” through Strait of Hormuz with Iran]
12. Washington và Tehran bất đồng sâu sắc về các cuộc đàm phán.
Các cuộc đàm phán dường như cho thấy hai bên vẫn còn cách nhau khá xa. Trong một tuyên bố với CNN, một quan chức cao cấp của Iran cho biết eo biển Hormuz sẽ vẫn đóng cửa cho đến khi “dưới một chế độ pháp lý mới, những thiệt hại do cuộc chiến tranh áp đặt gây ra được bồi thường đầy đủ từ một phần doanh thu phí quá cảnh”.
Điều này diễn ra sau khi Tổng thống Trump đăng một thông điệp trên Truth Social vào sáng Chúa Nhật, đe dọa cơ sở hạ tầng dân sự quan trọng ở Iran, viết: “Thứ Ba sẽ là Ngày Nhà máy Điện và Ngày Cầu, tất cả gói gọn trong một, ở Iran. Sẽ không có gì giống như vậy!!! Mở eo biển ra đi, lũ điên khùng, nếu không các ngươi sẽ sống trong địa ngục - CỨ CHỜ XEM!”
Sau đó, ông ấy đính chính rằng ý ông ấy là thứ Ba, 8 giờ tối theo giờ miền Đông.
Phóng viên Julia Manchester của tờ The Hill, chuyên đưa tin về Tòa Bạch Ốc, sau cuộc điện đàm với tổng thống, cho biết ông thừa nhận sẽ không loại trừ khả năng điều quân bộ vào Iran nếu nước này không đồng ý thỏa thuận.
Và trong cuộc trò chuyện với Tổng thống Trump hôm Chúa Nhật, Yingst lưu ý rằng tổng thống “rất nghiêm chỉnh” về những lời đe dọa của mình sau khi đưa ra “nhiều phương án rút lui”.
“Ông ấy nói với tôi rằng… lý tưởng nhất là ông ấy sẽ lấy dầu của Iran nếu họ không chịu đạt được thỏa thuận, và đó là một diễn biến quan trọng trong cuộc xung đột này, và tổng thống đã nói rất rõ trong bài đăng của mình trên Truth Social rằng cơ sở hạ tầng điện và năng lượng của Iran sẽ bị tấn công trong những ngày tới nếu Iran không đạt được thỏa thuận vào ngày mai,” ông nói thêm.
[Newsweek: Washington and Tehran Far Apart on Negotiations]
13. Các quan chức Israel chúc mừng Mỹ về việc giải cứu phi công ở Iran.
Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã hoan nghênh việc giải cứu phi công người Mỹ có máy bay chiến đấu bị Iran bắn hạ.
“Tất cả người dân Israel đều vui mừng trước cuộc giải cứu ngoạn mục một phi công người Mỹ dũng cảm bởi những chiến binh gan dạ của nước Mỹ,” ông nói trong một video. “Điều này chứng minh rằng khi các xã hội tự do tập hợp lòng dũng cảm và quyết tâm của mình, họ có thể đối mặt với những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua và chiến thắng các thế lực bóng tối và khủng bố.”
Bộ trưởng Quốc phòng Israel, Israel Katz, cũng chúc mừng Mỹ, gọi chiến dịch giải cứu là “một minh chứng khác cho sự hợp tác chặt chẽ giữa Israel và Mỹ, ngay cả trong những thời điểm phức tạp nhất”.
[CBSNews: Israeli officials congratulate U.S. for airman's rescue in Iran]
14. Kuwait cho biết các nhà máy điện và nhà máy khử muối nước bị hư hại trong vụ tấn công của Iran.
Bộ điện lực và nước Kuwait cho biết sáng Chúa Nhật theo giờ địa phương rằng hai nhà máy điện và khử muối nước của Kuwait đã bị hư hại do một cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa từ Iran.
Bộ này cho biết trong một bài đăng trên X rằng vụ tấn công đã gây ra “thiệt hại vật chất đáng kể và làm ngừng hoạt động hai tổ máy phát điện”, đồng thời cho biết thêm không có người chết hay bị thương.
Trước đó, quân đội Kuwait cho biết hệ thống phòng không của họ đang hoạt động để đánh chặn hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa.
Theo một tuyên bố của Bộ Tài chính Kuwait, một cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Iran cũng đã gây ra thiệt hại “đáng kể” cho một tòa nhà chính phủ ở thành phố Kuwait vào tối thứ Bảy. Không có báo cáo về thương vong.
[CBSNews: Kuwait says power, water desalination plants damaged in Iran attack]
15. Các nhà sản xuất dầu lớn cho biết họ sẽ tăng sản lượng do eo biển Hormuz vẫn đóng cửa.
Tám nhà sản xuất dầu lớn thuộc nhóm OPEC+ hôm Chúa Nhật cho biết họ có kế hoạch tăng sản lượng thêm 206.000 thùng mỗi ngày bắt đầu từ tháng tới, mặc dù việc eo biển Hormuz đóng cửa trên thực tế có thể gây khó khăn cho việc vận chuyển phần lớn lượng dầu bổ sung đó đến thị trường toàn cầu.
Các quốc gia ký kết tuyên bố này bao gồm một số quốc gia sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới: Ả Rập Xê Út, Nga, Iraq, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Kuwait, Kazakhstan, Algeria và Oman.
Nhóm tám quốc gia này cũng cảnh báo về tác động của các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng năng lượng trong cuộc chiến Mỹ-Iran, viết rằng “việc khôi phục các tài sản năng lượng bị hư hại về công suất tối đa vừa tốn kém vừa mất nhiều thời gian”.
[CBSNews: Key oil producers say they will boost production, as Strait of Hormuz remains closed]
ĐTGM Quân đội Mỹ: Theo giáo lý Công Giáo, cuộc chiến Iran là phi nghĩa. Đàng Thánh Giá tại Thánh Địa
VietCatholic Media
17:52 06/04/2026
1. Đức Tổng Giám Mục Broglio nói: Chiến tranh luôn phải là 'biện pháp cuối cùng'
Đức Tổng Giám Mục Timothy Broglio của Tổng Giáo phận Quân đội Hoa Kỳ cho biết cuộc chiến tranh Mỹ-Iran đang diễn ra là phi nghĩa theo lý thuyết chiến tranh chính nghĩa của Giáo Hội Công Giáo. Vị giám mục thừa nhận rằng mặc dù tình báo quân sự có thể có thêm thông tin mà công chúng chưa biết, nhưng vẫn “khó” thấy làm thế nào để biện minh cho cuộc chiến này.
Đức Tổng Giám Mục, người cũng từng giữ chức chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ từ năm 2022 đến năm 2025, đã đưa ra nhận xét này trong một cuộc phỏng vấn với Ed O'Keefe trên chương trình Face the Nation của đài CBS News, được phát sóng vào Chúa Nhật Phục sinh, 05 Tháng Tư,
Trong cuộc phỏng vấn, O'Keefe đã nhấn mạnh lý thuyết về “chiến tranh chính nghĩa” của Thánh Augustinô, trong đó nhà thần học cổ đại chỉ ra rằng “những lý do mà con người tiến hành chiến tranh” phải dựa trên cả hòa bình và sự cần thiết. Nhà báo hỏi liệu cuộc chiến tranh với Iran có thể được biện minh theo học thuyết đó hay không.
“Tôi cho rằng theo lý thuyết chiến tranh chính nghĩa, thì cuộc chiến này không phải vậy,” vị Tổng Giám Mục nói. “Bởi vì mặc dù có mối đe dọa từ vũ khí hạt nhân, cuộc chiến là để phủ đầu cho một mối đe dọa trước khi mối đe dọa đó thực sự trở thành hiện thực.”
“Tôi sẽ đứng về phía Đức Giáo Hoàng Lêô, người đã thúc giục đàm phán,” Đức Tổng Giám Mục Broglio tiếp tục. “Tôi cũng nhận ra rằng bạn có thể nói, vậy thì bạn sẽ đàm phán với ai? Và đó là một vấn đề.”
“Nhưng trong khi đó, nhiều người đang thiệt mạng, cả ở đó và trong số binh lính,” ông nói. “Vì vậy, đây là điều đáng lo ngại.”
Ngày 31 tháng 3, Giáo hoàng Lêô XIV đã kêu gọi hòa bình thế giới giữa nhiều cuộc xung đột ở Trung Đông, thúc giục các tín hữu cầu nguyện “cho các nạn nhân của chiến tranh… để thực sự có một nền hòa bình mới, được đổi mới, có thể mang lại sự sống mới cho tất cả mọi người.”
Trước đó, vào Chúa nhật Lễ Lá, Đức Thánh Cha đã lên tiếng mạnh mẽ hơn chống lại xung đột toàn cầu, cho rằng Chúa “không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến”.
Trong cuộc phỏng vấn trên đài CBS, Đức Tổng Giám Mục Broglio đã nhắc đến những phát biểu hồi tháng 10 năm 1965 của Giáo hoàng Phaolô Đệ Lục, người khi đó đã phát biểu trước Liên Hiệp Quốc lên án “máu của hàng triệu người” do nhiều cuộc xung đột toàn cầu gây ra, và nói với tổ chức quốc tế này: “Không bao giờ được chiến tranh nữa, không bao giờ được chiến tranh nữa!”
“Giờ đây, nhiều năm sau, chúng ta vẫn đang ở trong tình trạng này,” Đức Tổng Giám Mục Broglio nói. “Vì vậy, tôi nghĩ Đức Giáo Hoàng Lêô chắc chắn sẽ ủng hộ việc nói rằng, chúng ta phải tìm ra một tình huống mà nam giới và nữ giới có thể ngồi lại với nhau và tìm ra con đường hòa bình.”
“Tôi nghĩ chiến tranh luôn là biện pháp cuối cùng,” vị Tổng Giám Mục nói trong cuộc phỏng vấn.
Vào tháng Giêng, giữa lúc Mỹ có những động thái nhằm xâm lược Greenland, Đức Tổng Giám Mục Broglio trong một cuộc phỏng vấn với BBC đã bày tỏ lo ngại rằng binh lính có thể bị “đặt vào tình huống bị ra lệnh làm điều gì đó trái với đạo đức”.
Trả lời phỏng vấn đài CBS, vị giám mục thừa nhận rằng một người lính trong quân đội “phải tuân lệnh trừ khi mệnh lệnh đó rõ ràng là vô đạo đức”.
“Và sau đó có lẽ anh ta sẽ phải nói chuyện với cha tuyên úy, với cấp trên của mình,” Đức Tổng Giám Mục nói. “Câu hỏi đặt ra có thể là, liệu các tướng lĩnh hay đô đốc có đủ điều kiện để nói rằng, liệu chúng ta có thể xem xét vấn đề này theo một cách khác không?”
“Nhưng sau khi nói chuyện với một số người trong số họ, họ cũng đang ở trong tình thế khó xử tương tự,” ngài nói. “Vì vậy, tôi nghĩ lời khuyên của tôi là hãy gây ra ít thiệt hại nhất có thể và cố gắng bảo vệ mạng sống của những người vô tội.”
Source:National Catholic Register
2. Đàng Thánh Giá tại Thánh Địa
Cha Ibrahim Faltas, Hiệu trưởng các trường thuộc Tòa Giám quản Thánh Địa, suy ngẫm về việc vào sáng Thứ Sáu Tuần Thánh, 10 tu sĩ dòng Phanxicô đã có thể thực hiện nghi thức cổ xưa của Đường Thánh Giá qua Thành Cổ Giêrusalem.
Kể từ ngày 28 tháng 2, chúng tôi không thể sống trọn vẹn mùa Chay đầy ý nghĩa do chiến tranh lan rộng khắp Trung Đông, thậm chí ảnh hưởng đến cả Giêrusalem. Vì lý do tương tự, chúng tôi không thể tụ họp đông đảo để tham gia các nghi thức và phụng vụ của Tam Nhật Thánh, vốn gắn bó chặt chẽ qua hàng thiên niên kỷ với những nơi đã chứng kiến và trải nghiệm cuộc đời của Chúa chúng ta, và sau đó là cuộc Khổ nạn và Cái chết đau đớn của Ngài.
Những ngày và giờ của Tam Nhật Phục Sinh xen kẽ giữa nỗi đau của một Chúa Giêsu bị phản bội và chối bỏ, việc Ngài bị bắt và bị kết án tử hình, bóng tối của sự cô đơn và sự phó thác cho ý muốn của Chúa Cha, trước khi cuối cùng được nhìn thấy Ánh Sáng.
Hành trình Đường Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2026 qua Thành phố Cổ Giêrusalem, suy niệm về những khổ nạn của Chúa Giêsu dưới sức nặng của Thánh Giá dọc theo Via Dolorosa, chỉ có 10 tu sĩ dòng Phanxicô tham dự, do Cha Francesco Ielpo, Bề Trên Tổng Quyền Thánh Địa, dẫn đầu.
Tôi nhớ lại Chặng đường Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2020, khi mà do những hạn chế của đại dịch, chỉ có Cha Francesco Patton, người phụ trách lúc bấy giờ, tôi và Cha Marcelo Cicchinelli, người trông coi nhà thờ Cứu Thế, mới có thể đi bộ trên Via Dolorosa, suy niệm và cầu nguyện theo lòng sùng kính rất được các tín hữu hành hương và địa phương trân trọng—mà không có sự hiện diện của họ và dưới sự giám sát chặt chẽ của khoảng năm mươi binh lính.
Chúng ta không biết chính xác khi nào lòng sùng kính Đường Thánh Giá ở Thành cổ Giêrusalem bắt đầu, khi người ta suy niệm về những đau khổ của Chúa Giêsu dưới sức nặng của Thập tự giá. Chúng ta có thể hình dung rằng Đức Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã đi lại con đường ấy như Con mình, có lẽ không lâu sau khi Người qua đời; chúng ta có thể hình dung nỗi đau trong trái tim đau buồn của một người Mẹ khi nhìn thấy lại những hòn đá nơi Con mình ngã xuống, nghe thấy tiếng bước chân của Người, và tiếp tục đau khổ vì những sự sỉ nhục mà Người đã chịu đựng.
Người hành hương Egeria đã loan truyền tin tức về nghi lễ tôn giáo ở Giêrusalem tưởng niệm Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu tại chính những nơi đã diễn ra sự kiện đó. Nhiều người hành hương, nhà biên niên sử và nhà sử học đã để lại dấu vết của lòng sùng kính này, nhưng có lẽ chính lòng sùng kính của Thánh Phanxicô đối với Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu đã thúc đẩy nghi lễ đạo đức này, như một kết quả của chuyến hành hương hòa bình của ngài đến Thánh Địa. Vị Thánh Assisi yêu mến Chúa Giêsu vô cùng; ngài đã thực hiện Chuyến Hành trình Thánh với ước muốn mãnh liệt được viếng thăm và chăm sóc các Thánh Địa. Tôi thích hình dung rằng chính trên con đường Via Dolorosa mà Thánh Phanxicô đã nuôi dưỡng ước vọng cho các tu sĩ của mình trở thành người trông coi các Thánh Địa. Ngài yêu mến Chúa Giêsu Hài Đồng với lòng dịu dàng; ngài muốn ghi nhớ Ngài và giữ Ngài luôn hiện diện trước mắt và trong trái tim mình bằng cách dàn dựng cảnh Chúa Giáng Sinh đầu tiên ở Greccio.
Từ năm 1333—gần bảy trăm năm nay—chúng tôi đã gìn giữ ký ức về các Thánh Địa, và theo sắc lệnh của Tòa Thánh từ năm 1342, khi Đức Giáo Hoàng Clement VI chính thức yêu cầu chúng tôi “cư ngụ tại các Thánh Địa và cử hành Thánh Lễ và các Kinh Nhật tụng tại đó”. Đối với chúng tôi, những tu sĩ dòng Phanxicô, đây là một đặc ân mà chúng tôi hết lòng gìn giữ và là một vinh dự cho phép chúng tôi đối mặt với những khó khăn và gian khổ ở một vùng đất được thánh hóa bởi sự hiện diện của Chúa, nhưng cũng bị tổn thương và cay đắng bởi các xung đột và căng thẳng.
Trên hành trình dẫn chúng ta đến Lễ Phục Sinh năm 2026, chúng tôi đã chứng kiến bạo lực, cái chết và nỗi đau buồn trước sự đau khổ của biết bao anh chị em bị tước đoạt nhiều quyền lợi, bị tước đoạt tình yêu thương. Tuy nhiên, chúng tôi có thể ghi nhận một niềm vui huynh đệ và một vinh dự lớn lao cho Giáo phận Thánh Địa: Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đích thân yêu cầu Cha Francesco Patton, cựu Bề Trên Tổng Quyền Thánh Địa, chuẩn bị các bài suy niệm cho Đường Thánh Giá, được cử hành hàng năm tại Đấu trường Rôma và do chính Đức Giáo Hoàng chủ trì. Một khoảnh khắc ân sủng cho Giáo phận Thánh Địa giữa bao gian khổ cho một vùng đất đã chứng kiến sự đau khổ của Chúa Kitô, nay được phản ánh trong sự đau khổ của một nhân loại bị tổn thương và đau đớn.
Source:Vatican News
3. Khi các Giám mục Công Giáo chỉ trích Tổng thống, hãy chú ý lắng nghe các ngài.
Linh mục Raymond J. de Souza, là chủ bút tập san Công Giáo Convivium của Canada. Trong bài phân tích nhan đề “When Catholic Bishops Criticize Presidents, Pay Attention”, nghĩa là “Khi các Giám mục Công Giáo chỉ trích Tổng thống, hãy chú ý lắng nghe các ngài.”
Những ngày qua là khoảng thời gian vô cùng căng thẳng đối với các giám mục Mỹ liên quan đến các chính sách của chính quyền Tổng thống Trump. Một thời điểm tương tự đã xảy ra cách đây 5 năm, tại lễ nhậm chức của Tổng thống Joe Biden năm 2021, và những bài học từ đó vẫn còn phù hợp cho đến ngày nay.Giám mục Robert Barron của Winona-Rochester, Minnesota, đã lên án “bạo lực, trả thù, đe dọa, biểu tình, nghi ngờ sâu sắc lẫn nhau, bất ổn chính trị và nỗi sợ hãi” trong tiểu bang của mình, đồng thời kêu gọi các cơ quan quản lý nhập cư “hạn chế, ít nhất là trong thời điểm hiện tại, chỉ bắt giữ những người nhập cư bất hợp pháp đã phạm tội nghiêm trọng”.
Đồng thời, ngài viết rằng, “các nhà lãnh đạo chính trị nên ngừng kích động sự bất mãn đối với các viên chức đang nỗ lực thực thi pháp luật của đất nước, và những người biểu tình nên ngừng can thiệp vào công việc của ICE.”
Đức Tổng Giám Mục Timothy Broglio của Tổng giáo phận phục vụ quân đội đã có một cuộc phỏng vấn vô cùng mạnh mẽ với chương trình phát thanh Chúa Nhật của BBC, bày tỏ lo ngại rằng tuyên bố của Tổng thống Trump rằng ông chỉ bị ràng buộc bởi “đạo đức của tôi” là một vấn đề “đáng quan ngại” vì nó coi thường “luật pháp quốc tế” và “các nguyên tắc đạo đức cần hướng dẫn tất cả chúng ta”.
Đức Tổng Giám Mục còn nói thêm rằng bất kỳ hành động quân sự nào của Mỹ, đặc biệt là ở Greenland, đều sẽ không “hợp lý”. Việc “xâm lược một quốc gia thân thiện” là không thể chấp nhận được, và một chiến dịch quân sự như vậy sẽ không đáp ứng “các tiêu chuẩn của một cuộc chiến tranh chính nghĩa”. Hơn nữa, những lời lẽ của Tổng thống Trump “làm hoen ố hình ảnh của Hoa Kỳ trên thế giới”.
Tổng thống Trump đã có những phát ngôn khác nhau về việc sử dụng vũ lực để chiếm Greenland. Đức Tổng Giám Mục Broglio tuyên bố rằng, liên quan đến việc xâm lược Greenland, việc “không tuân theo mệnh lệnh đó là điều có thể chấp nhận được về mặt đạo đức”.
Ba Hồng Y người Mỹ — Blase Cupich của Chicago, Robert McElroy của Washington và Joseph Tobin của Newark — đã đưa ra một tuyên bố chung vào thứ Hai, “Định hướng tầm nhìn đạo đức cho chính sách đối ngoại của Mỹ”. Các ngài bày tỏ lo ngại rằng “vai trò đạo đức của đất nước chúng ta trong việc đối phó với cái ác trên khắp thế giới, bảo vệ quyền sống và phẩm giá con người, và ủng hộ tự do tôn giáo đều đang bị xem xét”.
Nhấn mạnh rằng “phá thai và an tử là những hành động phá hoại” “quyền sống, vốn là nền tảng không thể thiếu cho mọi quyền con người khác”, ba vị Hồng Y cũng bày tỏ lo ngại về “xu hướng các quốc gia giàu có giảm hoặc loại bỏ đóng góp của họ cho các chương trình viện trợ nhân đạo nước ngoài”, cũng như “sự gia tăng các vi phạm lương tâm và tự do tôn giáo nhân danh sự thuần khiết về ý thức hệ hoặc tôn giáo, đang bóp nghẹt chính tự do”.
Các Hồng Y Cupich, McElroy và Tobin là ba Hồng Y người Mỹ duy nhất hiện đang đứng đầu các giáo phận ở Hoa Kỳ. Tất cả những người còn lại đều đã nghỉ hưu từ các tổng giáo phận (Daniel DiNardo, Seán O'Malley, Wilton Gregory và Timothy Dolan) hoặc đang giữ các chức vụ ở Rôma.
“Chúng tôi lên án chiến tranh như một công cụ phục vụ lợi ích quốc gia hẹp hòi và tuyên bố rằng hành động quân sự chỉ nên được xem là biện pháp cuối cùng trong những tình huống cực đoan, chứ không phải là một công cụ thông thường trong chính sách quốc gia”, ba vị Hồng Y viết.
Đây là một thời điểm quan trọng — vị giám mục nổi tiếng nhất nước Mỹ về truyền thông Barron, cựu chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ Broglio và ba Hồng Y thường trú bày tỏ sự không hài lòng với chính quyền Tổng thống Trump về một loạt vấn đề.
Những lời chỉ trích xuất hiện đúng 5 năm sau khi Đức Tổng Giám Mục José Gómez của Los Angeles, khi đó là chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, gọi tắt là USCCB, đưa ra tuyên bố vào ngày lễ nhậm chức của Tổng thống Joe Biden hồi Tháng Giêng năm 2021.
Tuyên bố này là kết quả của các cuộc tham khảo ý kiến với một “nhóm làm việc” đặc biệt của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, gọi tắt là USCCB, nhóm đã thảo luận về cách thức tương tác với vị tổng thống Công Giáo đầu tiên kể từ thời JFK, đặc biệt là trong bối cảnh Tổng thống Biden từ lâu đã ủng hộ những quan điểm trái ngược với giáo lý Công Giáo về các vấn đề sự sống, hôn nhân và gia đình. Tuyên bố đó đã gây ra một số tranh cãi vì Hồng Y Cupich đã công khai chỉ trích nó là “thiếu cân nhắc”. Ngài là người duy nhất có quan điểm đó, trong khi một số giám mục khác ủng hộ Đức Tổng Giám Mục Gómez, nhưng sự chia rẽ công khai giữa các giám mục đã tạo ra các đồn thổi trong dư luận.
Tuyên bố năm 2021 của Đức Tổng Giám Mục Gómez đáng được xem xét lại, vì nó đã đề cập đến nhiều điểm được nhấn mạnh trong tuyên bố chung của các Hồng Y tuần này. Có ba lĩnh vực cụ thể mà tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gómez vẫn còn phù hợp.
Thứ nhất, đó là lời chứng của những người Công Giáo giữ các vị trí quan trọng trong đời sống công cộng.
“Làm việc với Tổng thống Biden sẽ là một trải nghiệm độc đáo, bởi ông là vị tổng thống đầu tiên của chúng ta trong 60 năm qua tuyên xưng đức tin Công Giáo,” Đức Tổng Giám Mục Gómez viết. “Trong thời đại chủ nghĩa thế tục ngày càng gia tăng và mạnh mẽ trong văn hóa Mỹ, khi những người có tín ngưỡng phải đối mặt với nhiều thách thức, thật sảng khoái khi được hợp tác với một vị Tổng thống hiểu rõ, một cách sâu sắc và cá nhân, tầm quan trọng của đức tin và các thể chế tôn giáo. Lòng mộ đạo và câu chuyện cá nhân của Tổng thống Biden, lời chứng cảm động của ông về cách đức tin đã mang lại cho ông sự an ủi trong những thời điểm tăm tối và bi kịch, cam kết lâu dài của ông đối với ưu tiên của Phúc Âm dành cho người nghèo — tất cả những điều này tôi thấy đầy hy vọng và truyền cảm hứng.”
Đức Tổng Giám Mục Gómez đã có sự cân bằng đúng đắn về vấn đề những người Công Giáo thực hành đức tin đang giữ chức vụ công. Vì đại đa số người Công Giáo Mỹ không tuân thủ nghĩa vụ tham dự Thánh lễ Chúa Nhật (Điều răn thứ ba), nên việc bắt đầu bằng việc ca ngợi tấm gương đáng ngưỡng mộ của Tổng thống Biden trước khi chuyển sang các vấn đề khác như phá thai (Điều răn thứ năm) là điều đúng đắn.
Sự cân bằng đó thường bị mất đi trong các cuộc tranh luận sau này về việc liệu các chính trị gia Công Giáo tham dự Thánh lễ và ủng hộ quyền phá thai có nên được rước lễ hay không. Chính việc tham dự Thánh lễ đã tạo nên sự khác biệt giữa trường hợp của Tổng thống Biden so với hầu hết các chính trị gia Công Giáo không tham dự Thánh lễ, vì vậy vấn đề rước lễ không phát sinh.
Nhiều người Công Giáo thường xuyên tham dự Thánh lễ Chúa Nhật có những khía cạnh trong cuộc sống khiến họ nên tránh rước lễ. Đối với họ, việc ưu tiên lòng sùng kính và thờ phượng Chúa trước tiên là điều đúng đắn. Nhiều người khác — cả các linh mục và nhà bình luận — đã không noi theo gương của Đức Tổng Giám Mục Gómez trong những năm sau đó. Với một phó tổng thống đương nhiệm cũng là người Công Giáo, những vấn đề này lại nổi lên.
Vấn đề thứ hai mà Đức Tổng Giám Mục Gómez nêu ra là mối quan hệ giữa đức tin Công Giáo và chủ nghĩa đảng phái.
“Chúng tôi làm việc với mọi Tổng thống và mọi Quốc hội,” Đức Tổng Giám Mục viết. “Về một số vấn đề, chúng tôi nghiêng về phía đảng Dân chủ hơn, trong khi về những vấn đề khác, chúng tôi lại đứng về phía đảng Cộng hòa. Ưu tiên của chúng tôi không bao giờ mang tính đảng phái. Trước hết, chúng tôi là người Công Giáo, chỉ tìm cách trung thành noi theo Chúa Giêsu Kitô và thúc đẩy tầm nhìn của Ngài về tình huynh đệ và cộng đồng nhân loại.”
Giáo hội là một cộng đồng các môn đệ, chứ không phải một đảng phái chính trị. Sứ mệnh của một cộng đồng là phát triển, là kết nạp những người khác vào cùng một mối dây sự sống, tình yêu và ân sủng. Một đảng phái chính trị, theo định nghĩa, tìm cách đánh bại các đối thủ của mình — lý tưởng nhất là bằng sự lịch sự và hòa hợp, nhưng dù sao cũng phải tìm cách thắng thế. Tinh thần bè phái không phù hợp với sự hiệp thông đích thực.
Trong năm năm kể từ tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gómez, tinh thần bè phái chỉ càng gia tăng trong văn hóa đại chúng, và chủ nghĩa bè phái ngày càng có nhiều chỗ đứng trong Giáo Hội Công Giáo. Đã xuất hiện những tiếng nói lớn khẳng định rằng người Công Giáo chỉ được phép, hoặc không bao giờ được phép, ủng hộ một đảng phái chính trị cụ thể nào.
Ba vị Hồng Y đã bày tỏ sự tiếc nuối về chính sự thiên vị đó trong tuyên bố tuần này.
“Việc xây dựng nền hòa bình công bằng và bền vững, điều vô cùng quan trọng đối với hạnh phúc của nhân loại hiện nay và trong tương lai, đang bị thu hẹp lại thành những phạm trù phe phái, khuyến khích sự phân cực và các chính sách phá hoại”, các ngài viết.
Một khía cạnh thứ ba mà Đức Tổng Giám Mục Gómez đã nêu ra cách đây 5 năm là nhu cầu về “sự hàn gắn và đoàn kết quốc gia”.
“Điều này vô cùng cần thiết khi chúng ta đang đối mặt với những tổn thương trong nước do đại dịch virus corona gây ra và sự cô lập xã hội, vốn chỉ làm trầm trọng thêm những chia rẽ sâu sắc và âm ỉ từ lâu giữa những người dân của chúng ta”, ngài viết.
Đại dịch đã qua, nhưng sự cô lập xã hội và những chia rẽ vẫn còn tồn tại — thường không âm ỉ lâu mà đã bùng phát dữ dội.
“Là những người có đức tin, chúng ta hiểu rằng sự chữa lành là một món quà mà chúng ta chỉ có thể nhận được từ bàn tay của Chúa,” Đức Tổng Giám Mục viết. “Chúng ta cũng biết rằng sự hòa giải thực sự đòi hỏi sự lắng nghe kiên nhẫn những người bất đồng quan điểm với chúng ta và sự sẵn lòng tha thứ, vượt qua những mong muốn trả thù. Tình yêu Kitô giáo kêu gọi chúng ta yêu thương kẻ thù và chúc phúc cho những người chống đối chúng ta, và đối xử với người khác bằng lòng thương xót mà chúng ta mong muốn nhận được cho chính mình. “
Liệu các giám mục Công Giáo có đủ tư cách để trở thành những người mang lại sự hàn gắn không? Có lẽ là tốt hơn so với các nhà lãnh đạo khác.
Các giám mục Công Giáo ít bị cô lập trong “bong bóng kỹ thuật số” hơn nhiều người khác; mỗi ngày các ngài đều gặp gỡ các thành viên trong giáo dân của mình trong những hoàn cảnh khác nhau, đối mặt với những thách thức riêng.
Đức Tổng Giám Mục Broglio quan tâm đến các quân nhân có thể bị yêu cầu tham gia vào một cuộc chiến tranh phi nghĩa — hoặc để thực thi luật pháp chính đáng trước các cuộc biểu tình. Giám mục Barron lại nhìn thấy xung đột và sự thù hận trên đường phố của chính tiểu bang mình. Các giám mục nói chung đã đưa ra một thông điệp đặc biệt vào tháng 11 năm ngoái, lưu ý rằng họ đã trực tiếp chứng kiến “trong cộng đồng của chúng ta một bầu không khí sợ hãi và lo lắng xung quanh các vấn đề về phân biệt đối xử và thực thi luật nhập cư”.
Mỗi giáo xứ đều có những quan điểm khác nhau, và mỗi linh mục quản xứ phải tìm cách thống nhất giữa các quan điểm đó. Các nhà lãnh đạo Công Giáo có kinh nghiệm thực tiễn trong việc thúc đẩy sự hàn gắn và duy trì sự hiệp nhất.
Những tuyên bố trong những tuần qua, theo nhiều cách khác nhau, là sự lặp lại những gì Đức Tổng Giám Mục Gómez đã viết cách đây năm năm. Liệu thông điệp này có được đón nhận rộng rãi hơn bây giờ không?
Source:National Catholic Register
Tướng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ: Có thể giải tỏa eo biển Hormuz mà không cần phạm tội ác chiến tranh
VietCatholic Media
17:57 06/04/2026
1. Một quan chức Tòa Bạch Ốc cho biết CIA đã tham gia sâu vào chiến dịch giải cứu phi công bị mắc kẹt ở Iran.
Một quan chức cao cấp trong chính quyền Tổng thống Trump nói với CBS News rằng CIA đã tham gia sâu vào nhiệm vụ giải cứu sĩ quan hệ thống vũ khí từ chiếc F-15E bị bắn rơi.
Trước khi tìm thấy phi công này, CIA đã phát động một chiến dịch đánh lạc hướng, tung tin đồn bên trong Iran rằng lực lượng Mỹ đã tìm thấy anh ta và đang di chuyển anh ta trên bộ để đưa ra khỏi nước này.
Trong khi chiến dịch đánh lừa đang diễn ra, cơ quan này đã sử dụng khả năng của mình để theo dõi thành viên phi hành đoàn trong một khe núi.
CIA đã chia sẻ vị trí chính xác của thành viên phi hành đoàn với Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ốc. Tổng thống đã ra lệnh thực hiện nhiệm vụ giải cứu ngay lập tức, trong khi CIA tiếp tục cung cấp thông tin theo thời gian thực.
Theo các quan chức, quân đội Mỹ đã tiến hành một chiến dịch quân sự phức tạp để giải cứu một sĩ quan bị mắc kẹt.
Một quan chức Mỹ và một quan chức Tòa Bạch Ốc đã xác nhận với đài CBS News rằng lực lượng đặc nhiệm Mỹ đã giải cứu thành viên phi hành đoàn mất tích từ Iran trong một chiến dịch phức tạp có sự tham gia của hàng chục binh sĩ lực lượng đặc biệt, cùng hàng chục máy bay chiến đấu và trực thăng.
Thông tin này được tờ New York Times đưa tin đầu tiên.
Hai quan chức cho biết, viên sĩ quan được giải cứu đã được đưa đến Kuwait để điều trị vết thương.
Hai quan chức cho biết, chiến dịch quân sự khốc liệt này đã sử dụng bom và hỏa lực để ngăn chặn quân đội Iran tiếp cận nơi viên sĩ quan mất tích được tường trình đang ẩn náu. Trong lúc bị mắc kẹt, anh ta chỉ có một khẩu súng lục để tự vệ, hai quan chức tiết lộ.
Hai máy bay vận tải được giao nhiệm vụ chở đội cấp cứu đã không thể cất cánh từ một căn cứ hẻo lánh ở Iran. Các quan chức cho biết, những máy bay đó đã bị phá hủy để tránh bị địch chiếm giữ, và lực lượng đặc nhiệm đã bay đi trên ba máy bay bổ sung được điều đến để đón họ.
Ba chiếc máy bay cấp cứu đã cất cánh từ Iran đến Kuwait, mỗi chiếc bay cách nhau một khoảng ngắn, các quan chức cho biết. Nhiệm vụ hoàn thành ngay trước nửa đêm, với tất cả lực lượng Mỹ đã ra khỏi không phận của đối phương.
[CBSNews: CIA was deeply involved in rescue of stranded airman from Iran, White House official says]
2. Tổng thống Trump nói người Kurd đã cất giữ súng vốn dành cho những người biểu tình ở Iran - theo một báo cáo.
Phóng viên thường trú về tin tức quốc tế của Fox News, Trey Yingst, cho biết hôm Chúa Nhật rằng Tổng thống Trump đã nói với ông trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại rằng Hoa Kỳ đã gửi vũ khí cho người Kurd, số vũ khí này dự định sẽ đến tay những người biểu tình ở Iran nhưng điều đó đã không xảy ra.
“Tổng thống Trump nói với tôi rằng Hoa Kỳ đã gửi súng cho những người biểu tình ở Iran,” Yingst kể lại với các MC của chương trình Fox & Friends Weekend. “Ông ấy nói với tôi: ‘Chúng tôi đã gửi cho họ rất nhiều súng. Chúng tôi đã gửi chúng thông qua người Kurd,’ và tổng thống nói rằng ông ấy nghĩ người Kurd đã giữ chúng.”
“Ông ấy còn nói thêm, ‘Chúng tôi đã gửi súng cho những người biểu tình, rất nhiều súng,’” Yingst nói thêm.
Trước đây, Tổng thống Trump đã tìm cách tách Mỹ khỏi sự can thiệp của người Kurd vào cuộc chiến với Iran, đảo ngược những tuyên bố trước đó dường như hoan nghênh sự tham gia của họ. Tổng thống Trump nói với các phóng viên rằng ông đã chỉ thị các nhóm người Kurd không tham gia vào cuộc chiến, báo hiệu rằng Washington không muốn bị coi là khuyến khích một mặt trận mới có thể khiến Mỹ vướng vào sâu hơn hoặc khiến lực lượng người Kurd phải đối mặt với sự trả đũa.
Những phát ngôn của Tổng thống Trump phù hợp với xu hướng rộng hơn của tổng thống trong việc hạ thấp các nghĩa vụ dài hạn của Mỹ đối với các đối tác khu vực, đồng thời nhấn mạnh rằng các đồng minh phải tự chịu trách nhiệm về an ninh của mình. Bằng cách vạch ra ranh giới rõ ràng hơn giữa các mục tiêu quân sự của Mỹ và tham vọng của người Kurd, Tổng thống Trump đã định hình người Kurd nằm ngoài phạm vi cam kết của Mỹ, củng cố thông điệp rằng Mỹ không bị ràng buộc phải bảo vệ hoặc ủng hộ họ trong cuộc xung đột hiện tại.
Sau một thời gian tương đối im lặng trong kỳ nghỉ cuối tuần, Tổng thống Trump đã phát biểu trước các phóng viên vào Chúa Nhật nhằm tạo sự chú ý về những nỗ lực của Mỹ trong việc đàm phán với Tehran và chấm dứt chiến tranh.
Ông Yingst đã đề cập đến các cuộc đàm phán ngay từ đầu, nói rằng Tổng thống Trump tin rằng ông có thể đạt được thỏa thuận “ngay ngày mai” và có “khả năng cao” họ có thể hoàn tất vào thứ Hai.
Tuy nhiên, sau đó ông đã tiết lộ chi tiết về những diễn biến dẫn đến cuộc chiến, bao gồm phản ứng của Mỹ đối với các báo cáo hồi đầu năm nay về việc hàng chục ngàn thường dân bị chế độ Iran giết hại trong các cuộc biểu tình, 45.000 người theo thống kê của Tổng thống Trump, và việc Mỹ sau đó đã gửi súng cho những người biểu tình Iran.
Hãng thông tấn Nhân quyền, gọi tắt là HRANA ước tính hơn 7.000 người biểu tình Iran đã thiệt mạng trong các cuộc biểu tình quy mô lớn, trong khi các báo cáo truyền thông khác, dẫn lời các quan chức ở Iran, cho biết con số thực tế là hơn 30.000.
“Hãy nhớ rằng, tổng thống đã cam kết với những người biểu tình Iran xuống đường ở nước họ hồi đầu năm nay,” Yingst nói. “Những hình ảnh về hàng ngàn người bị tàn sát dưới tay chế độ Iran, chế độ hiện đang tấn công lực lượng Mỹ, đã lan truyền trên mạng, và tổng thống đã cam kết trên Truth Social với những người biểu tình đó, và ông ấy nói rằng sự giúp đỡ đang đến.”
“Và qua cuộc điện đàm với Tổng thống Trump, chúng ta biết được rằng ông ấy đã cố gắng gửi súng cho những người biểu tình này để họ tự vệ và chống trả”, Yingst tiếp tục. “Hãy nhớ rằng đây là những người biểu tình ôn hòa, phản đối chính phủ của họ, và họ đã bị chế độ Iran bắn đạn thật ngay trên đường phố nước mình. Họ đã bị tàn sát.”
Điều này đánh dấu một sự thừa nhận hiếm hoi từ Washington về các giao dịch của họ với các nhóm phiến loạn và các cuộc nổi dậy vũ trang chống lại các chế độ ở các quốc gia khác - và là một sự thừa nhận trực tiếp về việc giao dịch với người Kurd sau khi tổng thống đã cố gắng tách biệt chính quyền của mình khỏi sự tham gia tiềm tàng của họ trong cuộc xung đột Iran.
Tuy nhiên, ông Hejar Berenji, đại diện của Đảng Dân chủ Kurdistan thuộc Iran, gọi tắt là PDKI, nói với Yingst rằng: “Chúng tôi không nhận được bất kỳ vũ khí nào trong thời gian diễn ra các cuộc biểu tình ở Iran.”
[Newsweek: Trump Says Kurds Kept Guns Meant for Iran Protesters—Report]
3. Những quốc gia nào đang đi qua eo biển Hormuz — và bằng cách nào?
Hôm Thứ Hai, 06 Tháng Tư, Iran chính thức tuyên bố Iraq được miễn trừ khỏi các hạn chế về việc tiếp cận eo biển Hormuz, bổ sung thêm một quốc gia nữa có thể đi qua điểm nghẽn này trong khi chiến tranh vẫn tiếp diễn.
Điều này diễn ra sau một số ngoại lệ cụ thể mà Iran cho phép trong khi nước này vẫn tiếp tục hạn chế quyền tiếp cận đối với những người đã hỗ trợ hoặc tiếp tục ủng hộ Mỹ và Israel sau các cuộc tấn công chung vào ngày 28 tháng 2, sự kiện đã châm ngòi cho cuộc xung đột và giết chết Ayatollah Ali Khamenei cùng hàng chục quan chức cao cấp của Iran.
Khi xung đột leo thang, các quan chức Iran cảnh báo các tàu thuyền rằng việc di chuyển qua đây không an toàn, dẫn đến việc các công ty vận tải biển phải ngừng hoạt động và đẩy giá dầu khí toàn cầu tăng mạnh. Tuyến đường thủy này thực tế bị đóng cửa đối với hầu hết các hoạt động giao thông thương mại, chỉ có một số ít tàu thuyền di chuyển qua trong điều kiện rủi ro và bất ổn cao.
Các vụ tấn công tàu thuyền, nỗi lo về thủy lôi và việc rút bảo hiểm đã khiến hàng ngàn tàu bị mắc cạn và buộc các nhà sản xuất và nhập khẩu năng lượng phải gấp rút tìm kiếm các giải pháp thay thế.
Sự gián đoạn này lan rộng ra ngoài khu vực Vịnh Ba Tư, gây căng thẳng cho thị trường năng lượng toàn cầu và dẫn đến các biện pháp khẩn cấp như việc phối hợp giải phóng dầu từ các kho dự trữ chiến lược. Ngay cả khi các chính phủ thảo luận về việc hộ tống hải quân và các nỗ lực ngoại giao để mở lại tuyến đường, các quan chức cảnh báo rằng việc khôi phục hoạt động vận chuyển bình thường qua eo biển Hormuz có thể mất nhiều tuần hoặc lâu hơn, với những hậu quả lâu dài đối với chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong bức thư đề ngày 22 tháng 3 từ Iran gửi cho các thành viên của Tổ chức Hàng hải Quốc tế, nước này đã làm rõ rằng các tàu “không thù địch” có thể đi qua eo biển, nghĩa là bất kỳ tàu nào không có liên hệ với Mỹ hoặc Israel đều có thể đi qua tuyến đường thủy này, được định nghĩa là các quốc gia “không tham gia cũng không ủng hộ các hành động gây hấn chống lại Iran”.
Các báo cáo tình báo của Mỹ cảnh báo rằng Iran khó có thể mở lại eo biển trong thời gian ngắn sắp tới vì giá dầu và khí đốt tăng cao do việc đóng cửa dường như là đòn bẩy thực sự duy nhất mà Tehran có đối với Mỹ và Israel, với khả năng giá cả tăng lên như một phương tiện gây áp lực buộc hai quốc gia này tìm ra lối thoát khỏi cuộc xung đột, theo Reuters đưa tin.
Tổng thống Trump hôm thứ Tư đã cố gắng xoa dịu những lo ngại về việc đóng cửa eo biển, nói với người dân Mỹ trong bài phát biểu trên truyền hình toàn quốc rằng “Hoa Kỳ hầu như không nhập khẩu dầu qua eo biển Hormuz và sẽ không nhập khẩu bất kỳ lượng nào trong tương lai”, đồng thời nhấn mạnh, “Chúng ta không cần nó”.
Ông khuyến khích các quốc gia phụ thuộc vào eo biển này “chăm sóc” tình hình và “nắm bắt và trân trọng nó”, nhưng phần lớn các quốc gia đó lại theo đuổi các giải pháp ngoại giao, với việc Iran dần dần cho phép ngày càng nhiều quốc gia tiếp cận trong vài tuần qua. Giữa tháng 3, Nhật Bản, Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan và Vương quốc Anh đã đưa ra một tuyên bố chung kêu gọi “những nỗ lực thích hợp để bảo đảm an toàn cho việc đi lại qua eo biển”.
Các quốc gia đó bao gồm:
Trung Quốc – được coi là một “quốc gia thân thiện” đã đứng ngoài cuộc xung đột nhưng trong những năm gần đây đã tăng cường quan hệ với Iran. Theo Al-Jazeera, các tàu chở dầu và hàng hóa có liên hệ với Trung Quốc đã được quan sát thấy đi qua eo biển sau khi có sự phối hợp ngoại giao, và Bắc Kinh đã kêu gọi giảm leo thang căng thẳng.
Ấn Độ - Các tàu chở khí hóa lỏng và dầu thô mang cờ Ấn Độ đã được chính quyền Iran cho phép đi qua một cách rõ ràng, với nhiều tàu được xác nhận đã vượt biển an toàn sau các cuộc đàm phán ngoại giao trực tiếp và lập trường trung lập của Ấn Độ trong cuộc xung đột.
Pakistan - được các quan chức Iran liệt kê trong số các quốc gia được phép đi lại an toàn, và ít nhất một tàu chở dầu treo cờ Pakistan đã được theo dõi rời khỏi Vịnh Ba Tư qua eo biển Hormuz vào giữa tháng 3.
Iran đã chính thức cho phép các tàu thương mại Nga sử dụng eo biển, phản ánh sự liên kết chiến lược ngày càng sâu sắc và sự ủng hộ của Mạc Tư Khoa dành cho Tehran trong bối cảnh chiến tranh.
Iraq - Vận tải biển của Iraq nằm trong số các quốc gia mà Iran mô tả là “thân thiện”, và việc đi lại được cho phép theo các quy định an ninh của Iran do sự liên kết chính trị và vị trí địa lý gần gũi với Baghdad.
Malaysia - Các tàu chở dầu của Malaysia đã được phép đi qua sau các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Kuala Lumpur và Tehran, trong đó Iran miễn phí quá cảnh để ghi nhận quan hệ ngoại giao.
Thái Lan - Theo các báo cáo từ khu vực và chính phủ, các tàu chở dầu thuộc sở hữu của Thái Lan đã được phép đi qua sau khi phối hợp ngoại giao, bất chấp các sự việc trước đó liên quan đến các tàu của Thái Lan.
Sri Lanka - Các quan chức Iran đã công khai cảm ơn Sri Lanka và đưa quốc gia này vào danh sách các nước cho phép tàu thuyền đi qua, với lý do hợp tác nhân đạo và hậu cần trong suốt cuộc xung đột.
Bangladesh - Các quan chức Iran đã nêu tên Bangladesh là quốc gia có sự phối hợp cho phép quá cảnh và được đối xử như một quốc gia thân thiện, đủ điều kiện cho phép quá cảnh hạn chế.
Ngoài ra, Thổ Nhĩ Kỳ đã cho phép một số tàu được chọn đi qua, mặc dù các báo cáo cho thấy hơn chục tàu đã được xác định đang lảng vảng gần eo biển và chờ được phê duyệt tính đến thứ Bảy. Bộ trưởng Giao thông Vận tải Thổ Nhĩ Kỳ Abdülkadir Uraloğlu nói với truyền thông địa phương rằng hai trong số 15 tàu ở gần eo biển hiện đã đi qua.
Pháp và Ý đã yêu cầu đàm phán với Tehran về việc cho phép tàu của họ đi qua eo biển, với chiếc tàu đầu tiên thuộc sở hữu của Pháp (nhưng mang cờ Malta) đã đi qua vào thứ Sáu, mặc dù vẫn chưa rõ liệu Pháp có được quyền đi lại hoàn toàn hay bị hạn chế tương tự như Thổ Nhĩ Kỳ.
4. Cựu chỉ huy CENTCOM cho biết Mỹ có khả năng mở lại eo biển Hormuz.
Tướng Frank McKenzie, cựu chỉ huy Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ, cho biết Mỹ có khả năng mở cửa eo biển Hormuz “nếu chúng ta lựa chọn làm vậy”, và những gì đang diễn ra hiện nay là “điều mà tôi gọi là bước chuẩn bị ban đầu cho một chiến dịch như vậy”.
“Mục tiêu là làm giảm khả năng phóng hỏa tiễn tầm ngắn của Iran vào eo biển nhằm vào các tàu chiến. Mục tiêu là tiêu diệt các tàu tấn công nhanh của họ”, McKenzie nói.
Ông lưu ý rằng đồng thời, Mỹ đang “nỗ lực loại bỏ kho thủy lôi của Iran”.
“Vì vậy, tất cả những điều đó đang được tiến hành ngay bây giờ,” McKenzie nói, và thêm rằng “Tôi nghĩ chúng ta đang tiến rất gần đến việc đạt được những mục tiêu đó.”
Khi được phóng viên Ed O'Keefe của đài CBS News hỏi liệu có cần huy động bộ binh để mở lại eo biển hay không, McKenzie cho biết eo biển có thể được mở bằng chiến dịch không quân và hải quân, và “việc sử dụng bộ binh có lẽ sẽ theo hướng các cuộc đột kích”. Ông lưu ý rằng đột kích là một cuộc tấn công nhanh chóng đi kèm với một kế hoạch rút lui được soạn thảo chi tiết.
Những bình luận này được đưa ra sau khi tổng thống đe dọa vào đầu ngày Chúa Nhật sẽ tấn công các cơ sở điện và cầu của Iran nếu Iran không mở lại tuyến đường thủy quan trọng này.
McKenzie nói rằng “người Iran sẽ được lợi rất nhiều nếu nghe theo Tổng thống Trump khi ông ấy nói sẽ tấn công họ, bởi vì ông ấy đã chứng minh rằng ông ấy sẵn sàng làm điều đó.”
Tướng Frank McKenzie, cựu chỉ huy Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ, đã nêu ra một số bài học quan trọng từ chiến dịch tìm kiếm và cấp cứu một phi công Mỹ mất tích trên chương trình “Face the Nation with Margaret Brennan” hôm Chúa Nhật, gọi đó là “bài học đắt giá cho Iran”.
McKenzie lưu ý rằng Iran không thể tìm thấy sĩ quan hệ thống vũ khí mất tích, người đã lẩn trốn ở Iran hơn một ngày sau khi máy bay chiến đấu của anh ta bị bắn hạ bởi hỏa lực của Iran, mặc dù các nhà lãnh đạo nước này đã đưa ra “lời kêu gọi rộng rãi tới người dân của họ để giao nộp anh ta”.
“Điều đó dường như không thành công,” ông nói với Ed O'Keefe của đài CBS News. “Đó có thể là dấu hiệu của sự bất mãn. Tôi không biết, nhưng bạn không thể hài lòng với điều đó nếu bạn là một nhà lãnh đạo cao cấp ở Tehran sáng nay.”
McKenzie đã chỉ ra sự thành công của chiến dịch tìm kiếm và cấp cứu nói chung, cho rằng kế hoạch đã được thực hiện “khá hiệu quả”.
“Chúng tôi luyện tập cho việc này không ngừng nghỉ. Đó là một phần của mỗi lần chúng tôi cử phi hành đoàn đến lãnh thổ địch, chúng tôi đều có những kế hoạch chi tiết, tỉ mỉ để tiêu diệt chúng,” McKenzie nói. “Đó là một phần rất cơ bản trong bản sắc của chúng tôi với tư cách là những người lính Mỹ.”
Cựu chỉ huy CENTCOM nhận xét rằng mặc dù Mỹ đã mất một vài máy bay trong nhiệm vụ này, “chỉ mất một năm để chế tạo một chiếc máy bay — nhưng phải mất 200 năm để xây dựng một truyền thống quân sự mà ở đó không ai bị bỏ lại phía sau.”
[CBSNews: Former CENTCOM commander says U.S. has the ability to reopen Strait of Hormuz]
5. Iran đe dọa sẽ có những cuộc tấn công mạnh mẽ hơn nếu các cơ sở dân sự của nước này bị tấn công.
Bộ chỉ huy liên hợp của Iran hôm Chúa Nhật đe dọa sẽ tăng cường các cuộc tấn công vào các cơ sở dầu mỏ và cơ sở hạ tầng dân sự khác nếu Mỹ và Israel tấn công các cơ sở dân sự của Iran.
Hãng thông tấn nhà nước Iran dẫn lời Bộ chỉ huy Khatam al-Anbiya cho biết họ đã tấn công một số cơ sở ở Israel và các nước Ả Rập vùng Vịnh sau khi một cuộc không kích của Israel nhắm vào khu phức hợp hóa dầu lớn nhất của Iran.
Tổng thống Trump đã đe dọa sẽ tấn công các nhà máy điện và cầu của Iran nếu eo biển Hormuz không được mở cửa trở lại.
[CBSNews: Iran threatens more forceful attacks if its civilian installations are targeted]
6. Israel cho biết một tòa nhà dân cư ở Haifa đã bị tấn công bởi Iran.
Theo thông báo của quân đội và giới y tế Israel hôm Chúa Nhật, một hỏa tiễn phóng từ Iran đã bắn trúng một tòa nhà dân cư ở thành phố Haifa, miền bắc Israel, làm bị thương bốn người.
Tòa nhà đã bị “trúng trực tiếp bởi một quả hỏa tiễn”, quân đội nói với AFP. Khi được hỏi liệu đó có phải là hỏa tiễn bắn từ Iran hay không, quân đội trả lời: “Đúng vậy”.
Vụ tấn công xảy ra chỉ vài phút sau khi quân đội cảnh báo họ đã phát hiện một loạt hỏa tiễn mới được phóng từ Iran. Bốn người bị thương khi một tòa nhà bảy tầng bị trúng hỏa tiễn trực tiếp, theo thông báo của cơ quan cấp cứu khẩn cấp Israel, Magen David Adom, gọi tắt là MDA.
Hình ảnh và video do MDA công bố cho thấy khói bốc lên từ tàn tích của một tòa nhà bị san phẳng trong khu vực dân cư đông đúc, và những chiếc cáng được lực lượng cấp cứu đặt trên đường để sơ cứu những người bị thương.
Phát ngôn nhân của MDA cho biết trong một tuyên bố rằng các nhân viên y tế thuộc dịch vụ cấp cứu đang cung cấp điều trị y tế và vận chuyển chín người đến bệnh viện sau cuộc tấn công.
Trong số đó có một người đàn ông 82 tuổi “trong tình trạng nguy kịch”, bị thương do “vật nặng và tác động của vụ nổ”, phát ngôn nhân cho biết. Ba người khác bị “thương tích do mảnh vỡ và vụ nổ”, theo tuyên bố.
Nhân viên cấp cứu Shevach Rothenshtrych của MDA dẫn lời người dân cho biết có người bị mắc kẹt dưới đống đổ nát ở các tầng dưới, và cụ ông 82 tuổi đã được giải cứu sau khi lực lượng cấp cứu “đã xoay sở để di chuyển những khối bê tông lớn bằng tay không”.
Đồng nghiệp của ông, Tal Shustak, cho biết khi nhận được các cuộc gọi khẩn cấp, “chúng tôi đã được điều động một lực lượng lớn đến hiện trường và chứng kiến sự tàn phá trên quy mô lớn, bao gồm kính vỡ, khói và bê tông vương vãi khắp mặt đất.”
[CBSNews: Haifa residential building hit in Iran attack, Israel says]
7. Israel tuyên bố sẽ tấn công cửa khẩu biên giới Li Băng-Syria.
Quân đội Israel tuyên bố sẽ tấn công một khu vực gần cửa khẩu chính giữa Syria và Li Băng, đồng thời kêu gọi cư dân di tản ngay lập tức.
Israel đã tiến hành các cuộc tấn công trên khắp Li Băng và phát động cuộc xâm lược trên bộ ở miền nam kể từ ngày 2 tháng 3, khi nhóm khủng bố Hezbollah được Iran hậu thuẫn tham gia vào cuộc chiến.
“Do Hezbollah sử dụng cửa khẩu Masnaa cho mục đích quân sự và buôn lậu thiết bị chiến đấu, quân đội Israel dự định sẽ tiến hành các cuộc tấn công vào cửa khẩu này trong thời gian tới”, phát ngôn viên tiếng Ả Rập của quân đội Israel, cho biết, đồng thời kêu gọi người dân rời khỏi khu vực này.
Một nguồn tin an ninh Li Băng tại cửa khẩu biên giới Masnaa nói với AFP rằng họ “hiện đang di tản cửa khẩu sau lời đe dọa từ Israel.”
Tại Syria, ông Mazen Aloush, giám đốc quan hệ công chúng của Cơ quan Biên giới và Hải quan, cho biết cửa khẩu này, được gọi là Jdeidet Yabous ở phía Syria, “chỉ dành cho mục đích dân sự và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích quân sự nào.”
Ông Aloush nói thêm rằng “trước những cảnh báo đang lan truyền và vì lo ngại cho sự an toàn của du khách, giao thông qua cửa khẩu sẽ tạm thời bị đình chỉ cho đến khi mọi rủi ro tiềm tàng giảm bớt.”
Một phóng viên của hãng tin AFP ở phía Syria của cửa khẩu cho biết vào sáng sớm Chúa Nhật, cửa khẩu vắng tanh, chỉ còn lại một vài lính canh.
Masnaa là cửa khẩu chính giữa Li Băng và Syria, biến nó thành tuyến đường thương mại quan trọng đối với cả hai nước và là cửa ngõ đường bộ then chốt giúp Li Băng tiếp cận phần còn lại của khu vực.
Israel đã tấn công cửa khẩu này vào tháng 10 năm 2024, trong cuộc chiến trước đó với Hezbollah. Cửa khẩu vẫn đóng cửa cho đến khi chính quyền Li Băng và Syria bắt đầu công tác sửa chữa sau lệnh ngừng bắn vào tháng tiếp theo.
[CBSNews: Israel says it will strike Lebanon-Syria border crossing]
8. Các vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn của Iran đã được báo cáo tại Israel và các quốc gia vùng Vịnh.
Một số quốc gia đồng minh của Mỹ đã báo cáo về các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn của Iran vào Chúa Nhật.
Bộ Quốc phòng Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hôm Chúa Nhật thông báo đã đối đầu với 60 máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn của Iran, bao gồm 50 máy bay điều khiển từ xa, 9 hỏa tiễn đạn đạo và 1 hỏa tiễn hành trình. Tổng cộng, nước này cho biết đã phải đối mặt với gần 2.200 máy bay điều khiển từ xa và hơn 500 hỏa tiễn của Iran kể từ khi cuộc chiến giữa Mỹ và Israel bắt đầu hơn 5 tuần trước.
Quân đội Kuwait cho biết họ đã đối đầu với hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa. Hãng thông tấn nhà nước nước này đưa tin rằng máy bay điều khiển từ xa đã tấn công các nhà máy điện, nhà máy khử muối nước và các cơ sở của Tập đoàn Dầu khí Kuwait. Không có thương vong nào được báo cáo.
Lực lượng Phòng vệ Israel hôm Chúa Nhật thông báo rằng họ đang nỗ lực đánh chặn các hỏa tiễn của Iran.
Quân đội Bahrain cũng báo cáo đã chặn được 13 máy bay điều khiển từ xa mới kể từ thứ Bảy, và Bộ Quốc phòng Ả Rập Xê Út cho biết họ đã chặn được một hỏa tiễn hành trình.
[CBSNews: Iranian drone and missile attacks reported in Israel and Gulf states]
9. Iran cho rằng lời đe dọa của Tổng thống Trump về việc tấn công vào cơ sở hạ tầng là “ý định phạm tội ác chiến tranh”.
Phái đoàn Iran tại Liên Hiệp Quốc cho biết những lời đe dọa của Tổng thống Trump nhằm vào các cơ sở hạ tầng cho thấy ông đang tìm cách “kéo khu vực vào một cuộc chiến tranh không hồi kết”.
Vài giờ sau bài đăng trên mạng xã hội đầy những lời chửi thề của Tổng thống Trump, trong đó ông hứa hẹn Iran sẽ “sống trong địa ngục” vì việc đóng cửa eo biển Hormuz, phái đoàn Tehran tại Liên Hiệp Quốc đã gọi những lời đe dọa của tổng thống về việc tấn công các nhà máy điện và cầu của Iran là “hành động kích động trực tiếp và công khai nhằm khủng bố dân thường và là bằng chứng rõ ràng về ý định phạm tội ác chiến tranh”.
Phái bộ cho biết trong một bài đăng trên mạng xã hội: “Cộng đồng quốc tế và tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ pháp lý phải ngăn chặn những hành vi tội ác chiến tranh tàn bạo như vậy. Họ phải hành động ngay bây giờ. Ngày mai thì quá muộn.”
Trong bài đăng trên mạng xã hội của mình, Chủ tịch Quốc hội Iran, Mohammad-Bagher Ghalibaf, nói với Tổng thống Trump rằng “những hành động liều lĩnh của ông đang kéo nước Mỹ vào một địa ngục trần gian đối với mọi gia đình.”
“Đừng nhầm lẫn: Các người sẽ không đạt được gì từ tội ác chiến tranh,” ông viết. “Giải pháp thực sự duy nhất là tôn trọng quyền của người dân Iran và chấm dứt trò chơi nguy hiểm này.”
[CBSNews: Iran says Trump's threat to target infrastructure is “intent to commit war crime”]
10. Marco Rubio tuyên bố đã tước quyền cư trú tại Mỹ của cháu gái Qassem Soleimani.
Hoa Kỳ đã thu hồi quyền cư trú vĩnh viễn của hai phụ nữ mà nước này cho là có quan hệ họ hàng với Qassem Soleimani, vị thiếu tướng quá cố lãnh đạo Lực lượng Quds của Iran, nhánh hải ngoại của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC, từ năm 1998 cho đến khi ông bị ám sát vào năm 2020.
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khẳng định rằng cháu gái của Soleimani, Hamideh Soleimani Afshar, và con gái của bà đã bị bắt giữ vào tối thứ Sáu.
Cả hai hiện đang bị Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan, gọi tắt là ICE giam giữ, trong khi Mỹ đang tìm cách trục xuất họ khỏi đất nước.
Vụ việc này đặt ra những câu hỏi về giới hạn của quyền tự do ngôn luận ở Mỹ và mức độ mà các thành viên gia đình nên bị trừng phạt vì mối quan hệ của họ.
Dẫn lời các báo cáo truyền thông và bài đăng trên mạng xã hội, Bộ Ngoại giao Mỹ mô tả Soleimani Afshar là “một người ủng hộ công khai chế độ độc tài, khủng bố ở Iran”. Bộ này cũng cho biết thêm rằng những phát ngôn như vậy sẽ không được dung thứ dưới thời Tổng thống Donald Trump.
“Chính quyền Tổng thống Trump sẽ không cho phép đất nước chúng ta trở thành nơi trú ẩn cho những công dân nước ngoài ủng hộ các chế độ khủng bố chống Mỹ”, tuyên bố cho biết.
Tuy nhiên, truyền thông Iran dẫn lời con gái của Soleimani, Zeinab Soleimani, phủ nhận việc hai người phụ nữ bị bắt giữ có bất kỳ mối liên hệ nào với cố lãnh đạo Lực lượng Quds.
Bà Zeinab cho biết trong một tuyên bố: “Những cá nhân bị bắt giữ tại Hoa Kỳ không hề có bất kỳ liên hệ nào với liệt sĩ Soleimani, và tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là sai sự thật”.
Các vụ bắt giữ diễn ra vào thời điểm năm tuần trôi qua kể từ khi cuộc chiến giữa Mỹ và Israel chống lại Iran bắt đầu vào ngày 28 tháng 2.
Thông báo hôm thứ Bảy là trường hợp thứ hai được biết đến trong tháng này mà chính quyền Tổng thống Trump tước bỏ tư cách nhập cư hợp pháp của những cá nhân bị cáo buộc có quan hệ với các lãnh đạo Iran.
Trên mạng xã hội, Ngoại trưởng Marco Rubio đã nhận công lao về quyết định thu hồi thẻ xanh của hai người phụ nữ này. Ông cho rằng những phát ngôn của Soleimani Afshar là lý do dẫn đến việc bà và con gái bị bắt giữ.
“Tuần này, tôi đã chấm dứt tư cách pháp lý của cả Afshar và con gái cô ấy,” Rubio viết.
“Bà ta cũng là người công khai ủng hộ chế độ Iran, chế độ đã ăn mừng các cuộc tấn công nhằm vào người Mỹ và gọi đất nước chúng ta là 'Kẻ thù lớn nhất'.”
Bộ Ngoại giao Mỹ cũng nhấn mạnh “lối sống xa hoa” của Soleimani Afshar ở Los Angeles trong tuyên bố của mình. Theo quyết định này, chồng của Soleimani Afshar cũng bị cấm nhập cảnh vào Mỹ.
Theo Bộ Ngoại giao Mỹ, một hành động tương tự đã được thực hiện trong tháng này đối với Fatemeh Ardeshir-Larijani, con gái của cố Ali Larijani, người từng đứng đầu Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao của Iran.
Cô và chồng mình, ông Seyed Kalantar Motamedi, đã bị thu hồi tư cách nhập cư hợp pháp tại Mỹ, và sau đó bị cấm nhập cảnh trở lại nước này.
Ông Larijani, một trong những nhân vật cao cấp nhất trong chính phủ Iran, đã thiệt mạng trong một cuộc không kích của Israel vào ngày 17 tháng 3, trong khuôn khổ cuộc chiến đang diễn ra.
Trong khi đó, Soleimani bị ám sát vào Tháng Giêng năm 2020 trong một cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Mỹ bên ngoài phi trường quốc tế Baghdad, trong nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Trump.
Việc trục xuất người thân của Larijani và Soleimani khỏi Mỹ diễn ra sau áp lực từ các nhân vật chính trị và nhà hoạt động bảo thủ, những người muốn trục xuất họ.
Ngay sau thông báo hôm thứ Bảy, Laura Loomer, một người có tầm ảnh hưởng cực hữu và là đồng minh của Tổng thống Trump, đã viết trên mạng xã hội rằng bà đã báo cáo cháu gái của Soleimani cho Bộ Ngoại giao và cảm ơn Rubio vì hành động của ông.
“Đây là một sự mất mát lớn,” bà nói về việc cách chức Soleimeini Afshar.
Một bản kiến nghị trực tuyến, được khởi xướng cách đây hai tháng trên trang web Change.org, cũng kêu gọi trục xuất Soleimeini Afshar, và sau khi chiến tranh bắt đầu, nó đã thu được hơn 4.000 chữ ký.
Trong khi đó, Ardeshir-Larijani từng làm việc trong lĩnh vực ung thư học tại Trường Y thuộc Đại học Emory ở bang Georgia phía nam nước Mỹ.
Sau khi Iran phát động cuộc đàn áp đẫm máu đối với những người biểu tình chống chính phủ vào tháng 12 và tháng Giêng, những người biểu tình đã tập trung tại viện ung thư của trường đại học để yêu cầu cách chức bà Ardeshir-Larijani.
Tính đến thứ Bảy, một bản kiến nghị trên Change.org kêu gọi trục xuất cô ấy đã thu được 157.017 chữ ký.
Đơn kiến nghị nhấn mạnh mối quan hệ gia đình của Ardeshir-Larijani với chính phủ của cố lãnh đạo tối cao Iran Ali Khamenei, người đã thiệt mạng vào ngày đầu tiên của cuộc chiến.
“Trong khi bà ta sống yên bình ở Mỹ, vô số thanh niên Iran đang chết ở Iran do các chính sách và quyết định của Ali Khamenei và nhóm thân cận của ông ta, bao gồm cả cha bà ta,” bản kiến nghị viết.
Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ Earl “Buddy” Carter của bang Georgia cũng lên tiếng ủng hộ, kêu gọi thu hồi giấy phép hành nghề y của bà Ardeshir-Larijani.
“Các cơ sở y tế của Mỹ không được phép trở thành nơi trú ẩn an toàn cho những cá nhân có quan hệ huyết thống và lòng trung thành với các chế độ công khai kêu gọi giết hại người dân Mỹ,” vị Dân biểu đảng Cộng hòa viết trong một bức thư ngỏ gửi tới Đại học Emory. “Sự an toàn của bệnh nhân, lòng tin của công chúng và an ninh quốc gia đòi hỏi hành động quyết đoán ngay bây giờ.”
Theo tờ báo sinh viên của trường, The Emory Wheel, tính đến tháng Giêng, Ardeshir-Larijani không còn là nhân viên của Đại học Emory nữa.
[CBSNews: Marco Rubio says he has stripped Qassem Soleimani’s niece of US residency]
11. 4 phi trường của Ý đối mặt với hạn chế về nhiên liệu máy bay phản lực
Bốn phi trường của Ý đang được cảnh báo rằng họ có thể phải đối mặt với tình trạng hạn chế nhiên liệu máy bay do nguồn cung bị khan hiếm từ một nhà cung cấp chính.
Thông báo hàng không được ban hành hôm thứ Bảy cho biết rằng “do nguồn cung nhiên liệu hạn chế từ Air BP Italia, dịch vụ tiếp nhiên liệu cho các nhà khai thác có hợp đồng với Air BP Italia có thể bị hạn chế”. Các phi trường bị ảnh hưởng là Bologna, Milan Linate, Treviso và Venice.
Hãng thông tấn ANSA của Ý đưa tin rằng Air BP Italia - một công ty con của tập đoàn dầu khí khổng lồ BP của Anh - đã thông báo với các hãng hàng không rằng ưu tiên sẽ được dành cho các chuyến bay cấp cứu và các chuyến bay của nhà nước, cũng như các chuyến bay kéo dài hơn ba giờ. Các chuyến bay khác có thể phải đối mặt với các hạn chế ít nhất cho đến ngày 9 tháng 4.
Danilo Recine, phó chủ tịch công đoàn phi công ANPAC của Ý, nói với Sky TG24 rằng tình hình hiện tại không nên dẫn đến việc hủy chuyến bay trong dịp cuối tuần lễ Phục sinh. Tuy nhiên, ông cảnh báo rằng “vấn đề sẽ trở thành hiện thực” nếu không tìm ra giải pháp cho việc phong tỏa eo biển Hormuz.
Thủ tướng Ý Giorgia Meloni đã đến thăm các quốc gia vùng Vịnh vào thứ Sáu và thứ Bảy nhằm bảo đảm tiếp tục tiếp cận nguồn cung năng lượng thiết yếu trong bối cảnh chiến tranh ở Iran. Bà cho biết sẽ hành động “để bảo đảm Ý có được nguồn cung năng lượng cần thiết”.
Tình trạng thiếu nhiên liệu có thể ảnh hưởng đến các phi trường khác ở Âu Châu do cuộc chiến tranh Mỹ-Israel gây ra. Sân bay Luân Đôn Heathrow và các phi trường khác của Anh nằm trong số những nơi dễ bị tổn thương nhất, với một số trường hợp gián đoạn chuyến bay liên quan đến nhiên liệu đã được báo cáo. Các trung tâm giao thông lớn khác của Âu Châu như Pháp và Bồ Đào Nha cũng có thể bị ảnh hưởng.
[CBSNews: 4 Italian airports face jet fuel restrictions]
12. Á Căn Đình trục xuất nhà ngoại giao hàng đầu của Iran.
Bộ Ngoại giao Á Căn Đình cho biết họ đã trục xuất nhà ngoại giao hàng đầu của Iran trong bối cảnh căng thẳng leo thang giữa chế độ thần quyền của Iran và chính phủ tự do của Á Căn Đình, vốn có quan hệ mật thiết với chính quyền Tổng thống Trump.
Trong một thông điệp trên X, Ngoại trưởng Á Căn Đình Pablo Quirno cho biết Đại biện lâm thời của Iran, Mohsen Soltani Tehrani, đã rời khỏi nước này “tuân thủ” nghị quyết được ban hành hôm thứ Năm, cho phép nhà ngoại giao Iran có 48 giờ để rời khỏi quốc gia Nam Mỹ này.
Căng thẳng giữa hai quốc gia đã leo thang vào đầu tuần này sau khi Á Căn Đình tuyên bố Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran là một tổ chức khủng bố. Biện pháp này sẽ cho phép chính phủ Á Căn Đình áp đặt các biện pháp trừng phạt tài chính đối với những người giao dịch với nhánh quân đội này của Iran và tịch thu bất kỳ tài sản nào mà lực lượng này có thể sở hữu ở Á Căn Đình.
Bộ Ngoại giao Iran đã đáp trả việc bị liệt vào danh sách khủng bố bằng một tuyên bố cho rằng hành động của Á Căn Đình là một “tội lỗi không thể tha thứ” chịu ảnh hưởng từ Mỹ.
[CBSNews: Argentina expels Iran's top diplomat]
13. Tổng thống Zelenskiy cho biết Ai Cập sẽ không chấp nhận lúa mì Ukraine do Nga xuất khẩu.
Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy hôm thứ Sáu tuyên bố Ai Cập sẽ từ chối mua các lô hàng ngũ cốc của Nga có nguồn gốc từ vùng Ukraine bị tạm chiếm.
Tổng thống Zelenskiy cho biết: “Tôi đã nói chuyện với Tổng thống Ai Cập Abdel Fattah al-Sisi, người nói với tôi rằng Ai Cập sẽ không còn chấp nhận ngũ cốc xuất khẩu từ Nga từ các vùng lãnh thổ mà chúng tôi tạm thời xâm lược nữa”, đồng thời cho biết thêm rằng Cairo đã bày tỏ sự quan tâm đến việc tăng cường nhập khẩu ngũ cốc từ Ukraine.
Động thái này đánh dấu một sự thay đổi lớn trong chính sách của Ai Cập. Nước này là nhà nhập khẩu lúa mì lớn nhất thế giới, và trong một cuộc phỏng vấn gần đây, đại sứ Nga tại Ai Cập cho biết Cairo đã mua hơn 8 triệu tấn ngũ cốc của Nga trong năm 2025.
Theo Tổng thống Zelenskiy, trong cuộc điện đàm với ông al-Sisi, ông cũng đã thảo luận về cuộc chiến đang diễn ra ở Trung Đông, cũng như tác động của nó đến thị trường dầu mỏ toàn cầu. Tổng thống Ukraine viết rằng Kyiv đã đề nghị Cairo “hợp tác kỹ thuật quân sự” và đồng ý tiếp tục thảo luận về vấn đề này.
[Politico: Egypt won’t accept Ukrainian wheat exported by Russia, Zelenskyy says]
14. Tổng thống Trump đã đăng tải một thông báo khó hiểu về thời gian cụ thể vào thứ Ba sau khi đặt ra hạn chót cho Iran.
Tổng thống Trump đã đăng trên Truth Social: “Thứ Ba, 8 giờ tối theo giờ miền Đông!”
Thông điệp của ông không bao gồm bất kỳ chi tiết nào khác, nhưng nó được đưa ra khi Tổng thống Trump phát tín hiệu cho Iran rằng nước này phải mở lại eo biển Hormuz hoặc đối mặt với các cuộc tấn công dữ dội vào cơ sở hạ tầng của nước này bắt đầu từ thứ Ba.
CBS News đã liên hệ với Tòa Bạch Ốc để hỏi thời gian đó là thời điểm nào.
Tổng thống Trump nói với tờ Wall Street Journal rằng Mỹ sẽ phá hủy “mọi nhà máy điện” ở Iran nếu nước này không đồng ý mở lại eo biển Hormuz trước thứ Ba.
Ông nói với tờ báo rằng “nếu họ không hành động gì trước tối thứ Ba, họ sẽ không còn nhà máy điện nào và không còn cây cầu nào đứng vững nữa.”
[CBSNews: Trump cryptically posts a specific time on Tuesday after giving Iran a deadline]